Chính phủ ban hành Nghị định số 122/2026/NĐ-CP ngày 03/4/2026 quy định chi tiết việc xử lý vướng mắc của dự án BOT giao thông.

Chính phủ ban hành quy định về điều kiện chi trả, chi phí bồi thường và chấm dứt hợp đồng trước hạn của dự án BOT giao thông.
Nghị định này quy định chi tiết về xử lý vướng mắc giảm doanh thu của các dự án BOT trong lĩnh vực đường bộ có hợp đồng được ký kết trước ngày 01/01/2021 theo quy định tại Điều 99a Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP); điều kiện chi trả và nguyên tắc xác định chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo quy định tại điểm a khoản 2a Điều 52 Luật PPP đối với dự án BOT giao thông trong giai đoạn vận hành, kinh doanh có hợp đồng được ký kết trước ngày 01/01/2021.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức hợp đồng BOT được ký kết trước ngày 01/01/2021.
Nghị định quy định đối với dự án BOT giao thông trong giai đoạn vận hành, kinh doanh có hợp đồng được ký kết trước ngày 01/01/2021, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được chi trả chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo quy định tại điểm a khoản 2a Điều 52 Luật PPP khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
1. Dự án hoặc hạng mục công trình thuộc dự án đã hoàn thành theo quy định của pháp luật về xây dựng và đưa vào khai thác, sử dụng tối thiểu 2 năm nhưng nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án không được thu phí để hoàn vốn theo hợp đồng dự án.
2. Dự án bị sụt giảm doanh thu, các bên đã tính toán phương án tài chính điều chỉnh trên cơ sở dự kiến mức vốn nhà nước chia sẻ phần giảm doanh thu theo Điều 6 Nghị định này, giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, giảm lãi suất vốn vay theo Điều 7 Nghị định này. Sau khi tính toán, dự án có thời gian thu phí đến 50 năm nhưng chưa bảo đảm mức doanh thu để chi trả: các khoản thuế, phíphải nộp; chi phí quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình dự án; gốc vay và lãi vay theo phương án tài chính điều chỉnh.
1. Chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn được xác định trên cơ sở các thông số như sau:
a) Tổng vốn đầu tư xây dựng công trình dự án (bao gồm lãi vay trong giai đoạn xây dựng, không bao gồm vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án) xác định theo giá trị quyết toán sau khi đã thực hiện giảm trừ khoản thuế giá trị gia tăng doanh nghiệp dự án được hoàn, giảm trừ chi phí theo kết luận của cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước (nếu có);
b) Chi phí quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình dự án xác định theo xác nhận của cơ quan ký kết hợp đồng;
c) Các khoản thuế, phí doanh nghiệp dự án theo thực tế thực hiện sau khi đã khấu trừ khoản thuế giá trị gia tăng theo quy định (nếu có);
d) Doanh thu thu phí dịch vụ và các nguồn thu khác (nếu có) xác định theo xác nhận của cơ quan ký kết hợp đồng;
đ) Chi phí kiểm toán độc lập (nếu có);
e) Chi phí huy động vốn vay xác định theo nguyên tắc tại khoản 3.
2. Chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn tính bằng tổng chỉ phí quy định tại điểm a, b, c, đ và e khoản 1 nêu trên sau khi khấu trừ doanh thu thu phí và các nguồn thu khác (nếu có) quy định tại điểm d khoản 1 nêu trên.
3. Chi phí huy động vốn vay quy định tại điểm e khoản 1 nêu trên xác định bằng số vốn vay nhân với tỷ suất P. Thời gian tính chi phí huy động vốn vay từ thời điểm công trình dự án đưa vào vận hành, kinh doanh đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền quyết định việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

Trong đó:
Tỷ suất P (%/năm): xác định trên cơ sở kết quả đàm phán giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và tổ chức tín dụng (bên cho vay) nhưng không vượt quá 4%/năm.
Vi: số vốn vay tại năm thứ i, được xác định trên cơ sở giá trị giải ngân vốn vay thực tế và giá trị vốn đầu tư được quyết toán, bảo đảm không vượt quá tỷ lệ quy định tại hợp đồng dự án PPP. Số vốn vay không bao gồm phần vốn vay đã thanh toán từ nguồn doanh thu quy định tại điểm d khoản 1 nêu trên (nếu có).
n: là số năm, được xác định từ thời điểm công trình dự án đưa vào vận hành, kinh doanh đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền quyết định việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Trường hợp một phần vốn vay được giải ngân sau thời điểm dự án đưa vào vận hành, kinh doanh thì số năm được xác định từ thời điểm giải ngân phần vốn vay đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền quyết định việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.
4. Không tính lợi nhuận vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư trong chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành (03/4/2026).
Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
Nghị định này gồm 5 chương, 45 điều quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư về hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh, thủ tục đầu tư ra nước ngoài và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Các hoạt động đầu tư ra nước ngoài sau đây không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này gồm: Hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo hình thức mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 của Luật Đầu tư; hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí.
Nghị định này áp dụng đối với nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Nghị định quy định điều kiện đầu tư ra nước ngoài như sau:
1. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 38 Luật Đầu tư.
2. Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điều 40 Luật Đầu tư và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại Điều 11 Nghị định này.
3. Có quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này.
4. Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư. Thời điểm xác nhận của cơ quan thuế không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự án đầu tư.
5. Đối với tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngoài các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 nêu trên, phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Sử dụng nguồn vốn thuộc vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài, trong đó không bao gồm phần vốn góp để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
b) Có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liên tiếp liền kề trước năm đăng ký đầu tư ra nước ngoài, được xác định theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán (nếu có);
c) Trường hợp sử dụng vốn góp tăng thêm để đầu tư ra nước ngoài thì phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Nghị định này trước, sau đó thực hiện thủ tục tăng vốn và góp đủ vốn điều lệ tại Việt Nam trước khi chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.
Nghị định quy định Bộ Tài chính cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 7 tỷ đồng trở lên hoặc dự án có lĩnh vực thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư, trừ các dự án quy định tại Điều 18 của Nghị định này.
Đối với dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Đối với dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, khi thực hiện điều chỉnh dự án thì không phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận lại đối với các trường hợp sau:
a) Thay đổi địa điểm đầu tư trong cùng một quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư;
b) Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài lần đầu với mức tăng không quá 10% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đã được chấp thuận và không làm thay đổi mục tiêu chính của dự án;
c) Sử dụng lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư vào chính dự án đó theo quy định của pháp luật;
d) Giảm vốn đầu tư ra nước ngoài để chuyển vốn về nước;
đ) Các trường hợp điều chỉnh khác không làm thay đổi mục tiêu chính, quy mô của dự án hoặc không thuộc trường hợp đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt.
a) Văn bản đăng ký đầu tư ra nước ngoài (bản chính);
b) Tài liệu về tư cách pháp lý của nhà đầu tư (bản sao hợp lệ);
c) Quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 14 Nghị định này (bản chính);
d) Xác nhận của cơ quan thuế về việc nhà đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ thuế (bản chính hoặc bản sao hợp lệ);
đ) Tài liệu xác định địa điểm thực hiện dự án đầu tư ở nước ngoài đối với dự án thuộc diện phải xác định địa điểm theo quy định tại Điều 12 của Nghị định này (bản sao hợp lệ);
e) Tài liệu xác định hình thức đầu tư ra nước ngoài đối với trường hợp quy định tại Điều 13 của Nghị định này (bản sao hợp lệ);
g) Đối với trường hợp đầu tư theo hình thức quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định này, nhà đầu tư nộp tài liệu liên quan đến giao dịch hoán đổi, bao gồm thỏa thuận hoặc hợp đồng và tài liệu xác định giá trị giao dịch (bản sao hợp lệ);
h) Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài trong các ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư, nhà đầu tư nộp văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật có liên quan (bản sao hợp lệ).
Nhà đầu tư kê khai thông tin Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư và nộp 01 bộ hồ sơ gốc và kèm theo bản điện tử của hồ sơ cho Bộ Tài chính. Hồ sơ được Bộ Tài chính tiếp nhận khi có đủ đầu mục tài liệu và số lượng theo quy định.
Trường hợp dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 25 tỷ đồng trở lên thì Bộ Tài chính lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về ngoại hối thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng văn bản.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản trả lời Bộ Tài chính về tình hình vốn đã chuyển ra nước ngoài trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; việc nhà đầu tư đáp ứng điều kiện chuyển tiền theo quy định của pháp luật; vấn đề vay vốn, cho tổ chức kinh tế ở nước ngoài vay, bảo lãnh cho tổ chức kinh tế ở nước ngoài và các vấn đề liên quan khác.
Trường hợp hồ sơ có nội dung cần phải làm rõ, Bộ Tài chính có văn bản thông báo cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
Trường hợp dự án đầu tư ra nước ngoài có nội dung liên quan đến hoạt động cho vay ra nước ngoài hoặc bảo lãnh cho tổ chức kinh tế ở nước ngoài vay, nhà đầu tư thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Việc xem xét, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài không thay thế việc chấp thuận hoạt động cho vay ra nước ngoài, bảo lãnh cho tổ chức kinh tế ở nước ngoài vay theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Trường hợp dự án đầu tư ra nước ngoài có ngành, nghề thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, Bộ Tài chính lấy ý kiến các cơ quan có liên quan. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Tài chính.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư, đồng thời sao gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính hoặc đăng ký thường trú, cơ quan thuế nơi xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư, cơ quan đại diện chủ sở hữu của nhà đầu tư (nếu có).
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc không đáp ứng các điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, Bộ Tài chính có văn bản thông báo từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 03/4/2026; thay thế Chương VI quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 03/4/2026 về việc thông qua Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm.

Chính phủ thông qua Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm.
Cụ thể, Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm để thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp trọng điểm phù hợp với bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hướng đến xây dựng nền công nghiệp độc lập, tự chủ, tự cường, góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung 02 chính sách do Bộ Công Thương đề xuất, bao gồm:
Chính sách 1: Khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm.
Chính sách 2: Phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ để hoàn thiện các chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm theo quy định, bảo đảm các yêu cầu sau:
Thể chế hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với phát triển các ngành công nghiệp công nghiệp trọng điểm; kiến tạo được một số chính sách, pháp luật để xử lý các điểm nghẽn cơ bản trong phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao đồng thời tạo đột phá về quá trình hiện đại hóa trong công nghiệp.
Khuyến khích đẩy mạnh nội địa hóa phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, ưu đãi về xuất xứ hàng hóa trong thương mại quốc tế; phù hợp với các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, các yêu cầu của các thị trường lớn. Thiết kế cơ chế khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thông qua bảo đảm quy tắc xuất xứ.
Xây dựng quy định thu hút và quản lý FDI trong các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng có chọn lọc, ưu tiên dự án công nghệ cao, công nghiệp nền tảng; đồng thời, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, góp phần nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.
Rà soát việc thực hiện quy định của pháp luật hiện hành để xây dựng nội dung phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, khắc phục được tồn tại, hạn chế, vướng mắc, bất cập; hài hòa với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; rà soát hồ sơ chính sách Luật bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp trọng điểm; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Trên cơ sở hồ sơ chính sách đã hoàn thiện, đảm bảo hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tổ chức soạn thảo dự án Luật Công nghiệp trọng điểm, báo cáo Chính phủ theo quy định. Trong đó, lưu ý nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội tại Thông báo số 274/TB-VPQH ngày 12/02/2026 của Văn phòng Quốc hội, bảo đảm các chính sách đặc thù đúng thẩm quyền của Quốc hội, không chồng chéo với các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan, phù hợp với các cam kết quốc tế trong thu hút đầu tư FDI vào nước ta, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp trọng điểm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 173/TB-VPCP ngày 04/4/2026 về ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" - Ảnh: VGP/Thu Giang
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã ghi nhận và đánh giá cao sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, nghĩa tình của Bộ Quốc phòng, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia, Ban Chỉ đạo tỉnh Quảng Trị và các ý kiến phát biểu tâm huyết, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương đối với công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và sự tri ân của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta với các anh hùng liệt sĩ. Yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, từng thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia, Ban Chỉ đạo quân khu, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tập trung quán triệt, phối hợp chặt chẽ, triển khai thực hiện quyết liệt, nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Kế hoạch tổ chức phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" ban hành kèm theo Quyết định số 27/QĐ-BCĐQG ngày 22/3/2026 của Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia và các văn bản có liên quan.
Trong đó, lưu ý xác định rõ nội dung nhiệm vụ, công việc cụ thể theo từng tuần, từng tháng, từng quý, từng năm theo từng địa bàn; phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân theo nguyên tắc "6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ sản phẩm" và một việc chỉ do một cơ quan chủ trì xử lý, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy định.
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các quân khu và cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Bộ Quốc phòng khẩn trương xây dựng phương án cụ thể đẩy mạnh triển khai việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở các địa bàn và có văn bản hướng dẫn cụ thể triển khai công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ chưa xác định được thông tin ở các nghĩa trang liệt sĩ để triển khai đồng bộ trên cả nước; bảo đảm hoàn thành trong tháng 4/2026.
Ban hành văn bản thống nhất về quy trình lấy mẫu, vận chuyển, bàn giao, bảo quản, lưu trữ mẫu hài cốt liệt sĩ; cách thức tổ chức lực lượng. Xây dựng, hoàn thiện quy trình số hóa thông tin quá trình lấy mẫu hài cốt liệt sĩ; phương án kỹ thuật phần mềm quản lý thông tin mẫu hài cốt liệt sĩ; bảo đảm hoàn thành trong tháng 4/2026.
Chỉ đạo tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các lực lượng làm nhiệm vụ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ; tổ chức tập huấn trực tiếp, kết hợp trực tuyến trên phạm vi toàn quốc; trên cơ sở đó các đơn vị, địa phương tổ chức triển khai thực hiện việc lấy mẫu hài cốt liệt sĩ; hoàn thành trong tháng 4/2026.
Đồng thời, chỉ đạo thành lập các tổ công tác, các tổ (đội) chuyên trách lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ, bảo đảm đúng quy trình, kỹ thuật, không để sai sót, nhầm lẫn, làm cơ sở để công tác quản lý, lưu trữ, bảo quản, bàn giao, giám định ADN đạt hiệu quả cao nhất; hoàn thành chậm nhất 15/4/2026.
Chỉ đạo Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia phối hợp với Quân khu 4 làm tốt công tác chuẩn bị thí điểm lấy mẫu ở nghĩa trang liệt sĩ và bàn giao mẫu hài cốt liệt sĩ tại 01 nghĩa trang liệt sĩ, thời gian từ 20/4 và hoàn thành trong tuần thứ 2 tháng 5/2026.
Khảo sát, đề xuất bảo đảm kịp thời phương tiện, trang bị và kiểm tra công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở Lào, Campuchia và trong nước; hoàn thành trước tuần thứ 3 tháng 5/2026. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát, đánh giá, phân loại và đề xuất mua sắm các trang bị, phương tiện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ theo quy định tại Nghị định số 281/2025/NĐ-CP của Chính phủ; hoàn thành trong tuần thứ 4 tháng 5/2026.
Chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành liên quan xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra, rút kinh nghiệm; đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn trong thực hiện chiến dịch ở các cơ quan, đơn vị, địa phương; thời gian từ tháng 5/2026.
Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát, tổng hợp kinh phí bảo đảm phục vụ các nhiệm vụ, mục tiêu của Chiến dịch hoàn thành trước tuần thứ 2 tháng 5/2026, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Chỉ đạo tổ chức và dự Lễ đón các Đội làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyên và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh về nước tại Lào và Campuchia; Lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sĩ tại các địa phương trong tháng 5/2026.
Chỉ đạo triển khai dự án rà phá bom mìn, vật nổ tại các địa bàn trọng điểm, vùng lõi như Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang), Lào Cai, Lạng Sơn để phục vụ nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Phấn đấu hoàn thành việc rà phá bom mìn, vật nổ tại các địa bàn trọng điểm, vùng lõi và tổ chức tìm kiếm, quy tập được khoảng trên 700 hài cốt liệt sĩ trong tuần thứ 4 tháng 12/2026; bảo đảm an toàn tuyệt đối.
Bộ Nội vụ tập trung cao cho việc hoàn thiện hồ sơ đề xuất trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác lấy mẫu, giám định ADN và xác định danh tính liệt sĩ trình Chính phủ; hoàn thành trước ngày 07/4/2026.
Chỉ đạo giám định ADN mẫu hài cốt liệt sĩ tập trung vào các mẫu đang lưu trữ tại các trung tâm giám định ADN
Phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn địa phương trong việc rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ; bảo đảm thống nhất, đồng bộ.
Khẩn trương sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; hoàn thành và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 5/2026. Hoàn thiện Nghị định mới, thay thế Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ; hoàn thành trước 30/6/2026.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp về thu nhận, quản lý; phân tích ADN thân nhân liệt sĩ; xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn bảo đảm xây dựng ngân hành Gen thân nhân liệt sĩ chưa xác định thông tin; tổ chức đối sánh, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, có phương án triển khai thực hiện cụ thể ngay trong tháng 4/2026.
Chỉ đạo nâng cao năng lực cơ sở giám định ADN; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại; phối hợp khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ xác minh, đối chiếu thông tin. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám định ADN; hỗ trợ kỹ thuật khi cần thiết.
Bộ Tài chính khẩn trương tham mưu Chính phủ kinh phí thực hiện Chiến dịch trên cơ sở tổng hợp đề xuất kinh phí từ các bộ, ngành, địa phương; kịp thời bố trí, bổ sung dự toán cho các nhiệm vụ cấp bách phát sinh, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trước 31/4/2026 để bảo đảm nguồn lực để thực hiện.
Hướng dẫn cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí; ban hành các quy định liên quan sau khi Chính phủ có Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù; bảo đảm sử dụng nguồn lực hiệu quả, đúng quy định.
Bộ Y tế phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan trong việc nâng cao năng lực giám định sinh học; bảo đảm chất lượng chuyên môn trong quá trình lấy mẫu, giám định ADN. Chỉ đạo các cơ sở y tế tham gia hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật phục vụ công tác giám định ADN khi cần thiết.
Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ trong tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Hỗ trợ phát triển, hoàn thiện công nghệ giám định ADN; xây dựng cơ sở dữ liệu gen; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế.
Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin với các nước, nhất là Lào, Campuchia và các đối tác quốc tế trong trao đổi, cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ. Hỗ trợ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ ở nước ngoài; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám định ADN.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống, lan tỏa ý nghĩa nhân văn của Chiến dịch; gắn với các hoạt động tri ân, Đền ơn đáp nghĩa. Phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông; làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân; tích cực động viên các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, nhất là các cựu chiến binh tham gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc lĩnh vực quản lý tham gia cung cấp thông tin, tư liệu phục vụ tìm kiếm, quy tập.
Các quân khu, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức triển khai Chiến dịch tại địa phương; huy động các lực lượng tham gia đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tổ chức rà soát, thu thập, cung cấp thông tin theo quy định; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân đội trong tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ bảo đảm đạt chỉ tiêu Bộ Quốc phòng đã giao; chỉ đạo việc lấy mẫu hài cốt liệt sĩ bảo đảm hoàn Chiến dịch đúng thời hạn.
Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, nhân lực và các điều kiện cần thiết khác; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thành lập các tổ công tác, các tổ (đội) chuyên trách lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ; hoàn thành chậm nhất 15/4/2026.
Phó Thủ tướng đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí, các tổ chức thành viên đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia, cung cấp thông tin, hỗ trợ nguồn lực. Phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở; huy động sức mạnh toàn dân tham gia thực hiện Chiến dịch./.