
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn chủ trì phiên họp thứ nhất của Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông - Ảnh: VGP/Hải Minh
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 385/QĐ-TTg ngày 04/3/2026 thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông (Tổ công tác).
Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn làm Tổ Trưởng Tổ công tác.
Tổ phó Thường trực là đồng chí Lê Mạnh Hùng, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Các thành viên Tổ công tác gồm: Đồng chí Đặng Xuân Phong, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chính phủ; đồng chí Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Đỗ Thành Trung, Thứ trưởng Bộ Tài chính; đồng chí Nguyễn Xuân Sang, Thứ trưởng Bộ Xây dựng; đồng chí Hoàng Trung, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng chí Nguyễn Minh Hằng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; đồng chí Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam; đồng chí Đặng Hoàng An, Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam; đồng chí Ngô Hoàng Ngân, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; đồng chí Phạm Văn Thanh, Chủ tịch Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ công tác
Tổ công tác có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, đôn đốc, điều hòa, phối hợp giữa các bộ, ngành để giải quyết các nhiệm vụ liên quan đến việc đảm bảo an ninh năng lượng trong tình hình khủng hoảng tại Trung Đông.
Thường xuyên theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, tổng hợp; kịp thời giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan nhằm bảo đảm cung ứng đầy đủ xăng dầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của người dân.
Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách tháo gỡ vướng mắc, chủ động dự báo và có phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ về an ninh năng lượng, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.
Thực hiện các nhiệm vụ cụ thể khác có liên quan đến an ninh năng lượng và theo phân công, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Quyền hạn của Tổ công tác: Yêu cầu các bộ, cơ quan, báo cáo, cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan; mời lãnh đạo các bộ, cơ quan tham gia các cuộc họp của Tổ công tác; các quyền hạn khác được Thủ tướng Chính phủ giao.
Nguyên tắc, chế độ làm việc của Tổ công tác
Tổ công tác chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Quyết định này.
Tổ công tác làm việc theo chế độ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu; các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công.
Tổ công tác có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình hoạt động của Tổ công tác, báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng Chính phủ - Tổ trưởng sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ khi ký các văn bản chỉ đạo; Tổ phó Thường trực và các thành viên Tổ công tác sử dụng con dấu của bộ, cơ quan mình khi ký các văn bản để thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Bộ Công Thương là cơ quan thường trực của Tổ công tác; sử dụng bộ máy của mình để thực hiện nhiệm vụ giúp việc Tổ công tác; xây dựng Quy chế hoạt động của Tổ công tác trình Tổ trưởng ký ban hành; xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; chuẩn bị tài liệu, báo cáo và dự thảo thông báo kết luận của các cuộc họp của Tổ công tác; tổng hợp, báo cáo các hoạt động chung của Tổ công tác và thực hiện một số nhiệm vụ khác do Tổ trưởng giao.
Tổ công tác tự giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (04/3/2026).
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 5/3/2026 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 2/2026.
Nghị quyết nêu rõ: Trong nhiệm kỳ 2021 - 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Thành viên Chính phủ đã chủ động, tích cực, phát huy tinh thần trách nhiệm cao, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, trọng tâm là việc xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Trong đó, Chính phủ đã tổ chức 41 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật; chỉ đạo, cho ý kiến đối với hơn 215 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết và hồ sơ chính sách xây dựng luật, nghị quyết, trong đó có nhiều luật, nghị quyết quan trọng, khó, phức tạp, cấp bách. Tính cả nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Chính phủ đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua 179 luật, pháp lệnh, nghị quyết - gấp hơn 02 lần so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV. Công tác xây dựng, trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đã có những bước chuyển quan trọng về tư duy, cách làm theo đúng quan điểm, yêu cầu tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Công tác tổ chức thi hành pháp luật đã gắn kết chặt chẽ hơn với công tác xây dựng pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Tập trung nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật từ khâu xây dựng chính sách đến soạn thảo văn bản
Thời gian tới, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tiếp tục tập trung nguồn lực, chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, các nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị trong các lĩnh vực then chốt và các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung quán triệt, thực hiện nghiêm một số nội dung trọng tâm sau:
- Trực tiếp phụ trách, chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Quán triệt, thực hiện nghiêm tinh thần "6 tăng cường", "6 rõ", "6 sao", "6 phải" trong công tác xây dựng pháp luật.
- Tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, bảo đảm hài hòa yêu cầu quản lý nhà nước và yêu cầu khuyến khích đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thường xuyên nghiên cứu, cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật để đề xuất thể chế hóa thành pháp luật và kịp thời phát hiện các vướng mắc, khó khăn, điểm nghẽn trong các quy định pháp luật để kiến nghị sửa đổi, bổ sung; tập trung thời gian, nguồn lực xây dựng, trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo quy định.
- Tập trung nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật từ khâu xây dựng chính sách đến soạn thảo văn bản; chỉ áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp thực sự cần thiết và theo đúng quy định. Tăng cường truyền thông chính sách; chú trọng hoạt động tổng kết, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế; xây dựng, hoạch định chính sách, đánh giá tác động của chính sách; thực hiện hiệu quả quy định lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, các chủ thể chịu sự tác động; không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong thiết kế chính sách và xây dựng pháp luật.
- Khi xây dựng, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần rà soát, chỉnh lý kỹ các quy định về điều kiện bảo đảm, điều khoản chuyển tiếp, nội dung giao quy định chi tiết, thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết để bảo đảm tính khả thi của văn bản và tính khả thi của việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh, nghị quyết.
- Thực hiện việc cập nhật đầy đủ, kịp thời tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý trên "Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật" phục vụ công tác tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật.
- Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và thiết kế công cụ giám sát, kiểm tra. Việc xây dựng pháp luật cần kế thừa các quy định pháp luật đã được thực tiễn chứng minh, áp dụng hiệu quả; kịp thời sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ ngay những điểm nghẽn do quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không rõ ràng, không có tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn, gây cản trở, kìm hãm sự phát triển nhằm khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong công tác xây dựng pháp luật; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, xóa bỏ cơ chế "xin - cho"; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, lành mạnh, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Theo Nghị quyết, tại Phiên họp ngày 27 tháng 02 năm 2026, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến đối với 04 dự án luật và 01 dự án nghị quyết, gồm: (1) Luật Thủ đô (sửa đổi); (2) Luật Hộ tịch (sửa đổi); (3) Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi); (4) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; (5) Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Giải quyết triệt để những "điểm nghẽn" của Thủ đô
Về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Chính phủ cơ bản thống nhất dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) do Bộ Tư pháp trình. Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ và ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ, rà soát kỹ để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) theo quy định, trong đó lưu ý bảo đảm một số yêu cầu sau:
- Rà soát toàn bộ dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, các Nghị quyết chiến lược, chuyên đề của Bộ Chính trị và quy định của Hiến pháp; phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội để kịp thời cập nhật những chỉ đạo, kết luận của cơ quan có thẩm quyền đối với dự thảo Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật; đánh giá thực tiễn thi hành Luật Thủ đô hiện hành; nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, những mô hình thủ đô tiên tiến, hiện đại của các nước trên thế giới, tiếp thu có chọn lọc những nội dung phù hợp để vận dụng cho Thủ đô.
- Hồ sơ dự án Luật phải thể hiện cụ thể, rõ ràng về những nội dung sửa đổi, hoàn thiện; nội dung bổ sung mới; nội dung lược bỏ so với Luật Thủ đô hiện hành và lý do đề xuất sửa đổi, bổ sung, lược bỏ; những nội dung phân quyền cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố; giải trình, thuyết minh cụ thể cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc đề xuất những cơ chế, chính sách mới tại dự án Luật gắn với yêu cầu giải quyết triệt để những "điểm nghẽn" của Thủ đô đã được chỉ ra trong quá trình đánh giá thi hành Luật Thủ đô hiện hành; trường hợp cần thiết báo cáo, đề xuất Chính phủ việc xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
- Rà soát, hoàn thiện quy định của dự thảo Luật theo hướng quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc để bảo đảm tính ổn định lâu dài của Luật. Thống nhất về nguyên tắc phân quyền tối đa, toàn diện, triệt để cho Thủ đô nhưng phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và thiết kế công cụ giám sát, kiểm tra. Việc phân quyền cho Thủ đô Hà Nội phải phù hợp với Hiến pháp, không trái điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm chủ quyền quốc gia, không ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia, giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa, di tích, di sản; bảo đảm việc vận hành nền hành chính quốc gia thống nhất, thông suốt, hiệu quả, công khai, minh bạch, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm.
- Những nội dung phân quyền cho chính quyền Thành phố phải xác định rõ chủ thể thực hiện, nội dung, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn để bảo đảm công khai, minh bạch và tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình của các chủ thể liên quan.
Đối với những cơ chế, chính sách, biện pháp giao Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố mà cần quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ, thẩm quyền khác văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì phải rà soát để giao Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.
Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi)
Chính phủ cũng thống nhất dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi) do Bộ Tư pháp trình. Chính phủ giao Bộ Tư pháp tiếp tục chủ trì, phối hợp với các Bộ, địa phương, các cơ quan liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ và ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ để chỉnh lý, rà soát kỹ, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo quy định, trong đó lưu ý bảo đảm một số yêu cầu sau:
- Tiếp tục rà soát các quy định của dự thảo để bảo đảm bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính bảo đảm hợp lý, khoa học nhưng đáp ứng yêu cầu đơn giản, hiệu quả về quy trình, thành phần hồ sơ, thời gian, chi phí xử lý...
- Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm chủ trì, phối hợp của từng cấp, cơ quan liên quan, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp cơ sở.
- Kịp thời sửa đổi, bổ sung những vấn đề đang thật sự khó khăn, vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật Hộ tịch năm 2014.
- Nghiên cứu, rà soát kỹ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; đánh giá thấu đáo điều kiện thực tiễn về hạ tầng công nghệ, các nguồn lực liên quan..., bảo đảm tính khả thi, hiệu quả trong việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong dự thảo Luật.
- Tiếp tục rà soát để xác định rõ các nội dung, hình thức văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết cũng như có kế hoạch soạn thảo phù hợp để bảo đảm thời điểm có hiệu lực của các văn bản này theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Về Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Chính phủ lưu ý cần phải thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đổi mới tư duy quản lý, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư và các tổ chức tôn giáo. Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức, tinh thần và nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phục vụ phát triển đất nước.
Quy định trong dự thảo Luật cần bảo đảm tính minh bạch, tính kế thừa, khả thi trong thực tiễn thi hành, giải quyết triệt để được các bất cập, tồn tại hiện nay và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới, nhất là các yêu cầu về quản lý mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hoạt động tín ngưỡng trong không gian mạng...
Đồng thời cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng, thực chất, gắn với đề cao trách nhiệm người đứng đầu; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp (Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã), bảo đảm tương thích giữa nhiệm vụ được giao với năng lực tổ chức bộ máy, nguồn lực và trình độ cán bộ ở địa phương. Rà soát kỹ các thủ tục hành chính tại dự thảo, kiên quyết cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết; quy định rõ tiêu chí, điều kiện để hạn chế cơ chế "xin - cho" gây khó khăn, phiền hà cho người dân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thực hiện dịch vụ công trực tuyến, chuyển đổi số trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; quy trình, trình tự, thủ tục hành chính tương thích với định danh điện tử và dịch vụ công toàn trình tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, bảo đảm thống nhất với pháp luật về chuyển đổi số và Chính phủ điện tử. Nghiên cứu giao Chính phủ quy định chi tiết những hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký; quy định về đào tạo bậc học cử nhân trở lên của các cơ sở đào tạo tôn giáo...
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 32/NQ-CP công bố 3 Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 tiếp tục có hiệu lực.
Cụ thể, Chính phủ công bố 3 văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành quy định chi tiết biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 08/2022/QH15) tiếp tục có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 cho đến khi có văn bản sửa đổi, bổ sung, bao gồm:
1- Nghị định số 46/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
2- Nghị định số 67/2023/NĐ-CP quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.
3- Nghị định số 174/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
Nguyên tắc áp dụng pháp luật
Nghị quyết nêu rõ việc áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 139/2025/QH15 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định ở trên được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn).
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 08/2026/QĐ-TTg ngày 03/3/2026 về tín dụng đối với người sau cai nghiện ma túy.
Quyết định này quy định về chính sách tín dụng đối với người sau cai nghiện ma túy, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng hoặc sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm.
Đối tượng vay vốn
Theo Quyết định đối tượng vay vốn gồm:
Người sau cai nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc hoặc đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định (sau đây gọi chung là người sau cai nghiện ma túy).
Người sau cai nghiện ma túy được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng.
Người lao động là người sau cai nghiện ma túy được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm; cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh (sau đây gọi chung là cơ sở sản xuất kinh doanh) có sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy.
Điều kiện vay vốn
Theo Quyết định, để được vay vốn, người sau cai nghiện ma túy đáp ứng các điều kiện sau:
Có nhu cầu vay vốn và có tên trong danh sách người sau cai nghiện ma túy có thời gian kể từ ngày ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đến thời điểm vay vốn không quá 10 năm, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Biểu mẫu kèm theo Quyết định này.
Trường hợp người sau cai nghiện ma túy vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng phải thuộc trường hợp không còn dư nợ chương trình tín dụng khác có cùng mục đích đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, có giấy xác nhận của cơ sở đào tạo nghề nghiệp theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, điều kiện vay vốn như sau:
Được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Có sử dụng tối thiểu 10% tổng số lao động là người sau cai nghiện ma túy và có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp người sau cai nghiện ma túy là thành viên cùng hộ gia đình với chủ hộ kinh doanh hoặc là thành viên hộ kinh doanh thì không yêu cầu hợp đồng lao động.
Lao động là người sau cai nghiện ma túy tại cơ sở sản xuất kinh doanh phải có tên trong danh sách theo Biểu mẫu kèm theo Quyết định này hoặc có Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú với thời gian kể từ ngày ban hành Quyết định đến thời điểm cơ sở sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn không quá 10 năm.
Có phương án vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm.
Phương thức cho vay
Quyết định quy định phương thức cho vay đối với người sau cai nghiện ma túy như sau:
Thực hiện cho vay thông qua thành viên hộ gia đình hoặc người giám hộ của người sau cai nghiện ma túy (nếu có). Đại diện hộ gia đình hoặc người giám hộ của người sau cai nghiện ma túy là người đứng tên vay vốn và giao dịch với Ngân hàng Chính sách xã hội.
Trường hợp người sau cai nghiện ma túy không thuộc đối tượng có người giám hộ hộ gia đình theo quy định của pháp luật, trong hộ gia đình không có thành viên khác từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc thành viên còn lại không có khả năng lao động hoặc không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật thì người sau cai nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên được trực tiếp đứng tên vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay thực hiện cho vay theo phương thức ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, Ngân hàng Chính sách xã hội nơi cho vay thực hiện phương thức cho vay trực tiếp.
Mức vốn cho vay
Đối với vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, Quyết định quy định mức cho vay tối đa bằng mức cho vay quy định theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) sau khi loại trừ các khoản hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp (nếu có) theo xác nhận của cơ sở đào tạo (mức cho vay tối đa hiện tại áp dụng là 4.000.000 đồng/tháng/người sau cai nghiện ma túy).
Đối với vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, mức cho vay tối đa là 200.000.000 đồng/người sau cai nghiện ma túy.
Trường hợp người sau cai nghiện ma túy (trực tiếp đứng tên vay vốn hoặc vay vốn thông qua hộ gia đình, người giám hộ) đang có dư nợ chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm hoặc các chương trình cho vay cá nhân khác có mục đích sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội thì tổng dư nợ của chương trình cho vay đối với người sau cai nghiện ma túy và các chương trình có mục đích sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm không vượt quá mức cho vay tối đa là 200.000.000 đồng/người sau cai nghiện ma túy.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, mức cho vay tối đa là 2.000.000.000 đồng/cơ sở sản xuất kinh doanh và không quá 200.000.000 đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh.
Thời hạn và lãi suất cho vay
Về vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày người vay bắt đầu nhận vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi). Thời hạn cho vay bao gồm thời hạn phát tiền vay và thời hạn trả nợ.
Thời hạn phát tiền vay là khoảng thời gian tính từ ngày người vay nhận món vay đầu tiên cho đến ngày người sau cai nghiện ma túy kết thúc khoá học nghề, kể cả thời gian người sau cai nghiện ma túy được các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho phép nghỉ học có thời hạn và được bảo lưu kết quả học nghề (nếu có).
Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian tính từ ngày người vay trả món nợ đầu tiên khi kết thúc khóa học đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi).
Thời hạn trả nợ tối đa bằng 02 lần thời hạn phát tiền vay.
Về vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thời hạn cho vay tối đa 120 tháng. Thời hạn cho vay cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quyết định trên cơ sở nguồn vốn, khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn để thỏa thuận với khách hàng vay vốn.
Lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định theo từng thời kỳ.
Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2026.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 382/QĐ-TTg ngày 03/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Dự trữ quốc gia (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Dự trữ quốc gia, bảo đảm việc triển khai được thực hiện kịp thời, đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả.
Xác định trách nhiệm của cơ quan chủ trì và trách nhiệm phối hợp của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai các nhiệm vụ thi hành Luật Dự trữ quốc gia trên phạm vi cả nước; bảo đảm sự phân công rõ ràng, tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.
Đồng thời, thực hiện đồng bộ cơ chế phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong quá trình tổ chức thi hành Luật Dự trữ quốc gia, qua đó tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời phát huy tính chủ động, linh hoạt và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, tạo lập cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, khả thi cho hoạt động dự trữ quốc gia theo đúng quy định của Luật Dự trữ quốc gia, phù hợp với yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động liên thông, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thi hành Luật Dự trữ quốc gia.
Tổ chức quán triệt, truyền thông Luật Dự trữ quốc gia; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật
Kế hoạch đưa ra 8 nhiệm vụ cụ thể để Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan triển khai như sau:
1. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan đăng tải, cập nhật toàn bộ nội dung Luật Dự trữ quốc gia và các văn bản quy định chi tiết Luật trên Cổng Thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử và các hình thức phù hợp khác của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân dễ dàng tiếp cận, khai thác, sử dụng.
Đồng thời, tổ chức quán triệt, truyền thông nội dung Luật Dự trữ quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật Dự trữ quốc gia thông qua các hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế như qua phương tiện truyền thông, tổ chức tọa đàm, hội nghị, diễn đàn...; trong đó, tập trung các quy định mới của Luật để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
2. Trong tháng 4/2026, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và hàng dự trữ quốc gia.
Trong tháng 9/2026, Bộ Tài chính trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ chiến lược; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dự trữ quốc gia về sử dụng dự trữ chiến lược để điều tiết thị trường; phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố đề xuất danh mục chi tiết hàng dự trữ chiến lược, cơ chế quản lý hàng dự trữ chiến lược; đề xuất việc sử dụng hàng dự trữ chiến lược để điều tiết thị trường và phối hợp trong quá trình xây dựng 2 Nghị định này.
Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về dự trữ quốc gia trong tháng 4/2026.
Xây dựng vị trí việc làm, rà soát, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức làm công tác dự trữ quốc gia
3. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành để quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp về dự trữ quốc gia.
4. Trong năm 2026, Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến dự trữ quốc gia thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm đồng bộ, thống nhất với quy định của Luật Dự trữ quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Dự trữ quốc gia.
5. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan biên soạn tài liệu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động dự trữ quốc gia; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật về dự trữ quốc gia.
6. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý về dự trữ quốc gia.
7. Hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được phân công quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng vị trí việc làm, rà soát, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức làm công tác dự trữ quốc gia.
8. Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thi hành Luật Dự trữ quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dự trữ quốc gia.
Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành về thiết kế kỹ thuật tổng thể của dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt quốc gia, tuyến đường sắt địa phương.
Trong đó, Nghị định số 67/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp thi hành để thực hiện thiết kế kỹ thuật tổng thể gồm: Nhiệm vụ thiết kế FEED; yêu cầu, quy cách của thiết kế FEED; thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED...
Nghị định quy định thiết kế kỹ thuật tổng thể (Front - End Engineering Design), sau đây gọi là thiết kế FEED là bước thiết kế được lập theo thông lệ quốc tế đối với dự án có thiết kế công nghệ để cụ thể hóa các yêu cầu về phương án công nghệ, thông số kỹ thuật của các thiết bị, vật liệu sử dụng chủ yếu, giải pháp xây dựng để triển khai bước thiết kế tiếp theo.
Nhiệm vụ lập thiết kế FEED
Theo quy định, nhiệm vụ thiết kế FEED do cơ quan chuẩn bị dự án lập hoặc thuê tổ chức tư vấn có đủ điều kiện năng lực lập.
Nhiệm vụ thiết kế phải phù hợp với chủ trương đầu tư xây dựng (nếu có), là căn cứ để lập thiết kế FEED.
Nhiệm vụ thiết kế gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Căn cứ để lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng;
- Mục tiêu và địa điểm xây dựng công trình;
- Các yêu cầu về quy mô, công năng sử dụng, tiêu chí đề xuất tiêu chuẩn áp dụng, quy hoạch, cảnh quan và kiến trúc của công trình;
- Các yêu cầu về kỹ thuật đối với phương án công nghệ của hệ thống thiết bị, phương tiện, công trình xây dựng và các yêu cầu kỹ thuật khác;
- Yêu cầu về chi phí, định hướng biện pháp, kế hoạch thi công tổng thể và quản lý rủi ro của dự án;
- Các yêu cầu về phương án kết nối, giao diện giữa các hạng mục công trình và hệ thống thiết bị của dự án (sau đây gọi là giao diện hệ thống); phương án kết nối giữa hệ thống đường sắt với các khu vực lân cận; đánh giá ảnh hưởng đối với các công trình hiện hữu;
- Yêu cầu về an toàn hệ thống đường sắt;
- Yêu cầu về phương án tổ chức, quy trình vận hành, khai thác, bảo trì, bảo dưỡng công trình;
- Yêu cầu, chỉ dẫn về lập thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED và các định hướng, chỉ dẫn về thi công, giám sát và nghiệm thu (sau đây gọi chung là chỉ dẫn kỹ thuật thiết kế FEED);
- Các yêu cầu về mức độ nhu cầu thông tin trong mô hình BIM của dự án;
- Các yêu cầu cần thiết khác của dự án.
Yêu cầu, quy cách của thiết kế FEED
Thiết kế FEED phải đáp ứng các yêu cầu tại nhiệm vụ thiết kế được chấp thuận; phù hợp với nội dung tại chủ trương đầu tư được phê duyệt (nếu có).
Thiết kế FEED phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được lựa chọn áp dụng, quy định về sử dụng vật liệu xây dựng; bảo đảm an toàn trong xây dựng, lắp đặt, sử dụng; bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường, an toàn lao động, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng cháy, chữa cháy và điều kiện an toàn khác.
Giải pháp thiết kế phải có so sánh và đánh giá một số phương án được nghiên cứu, đề xuất để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả.
Nội dung thiết kế FEED phải thể hiện được cấu trúc tổng thể của hệ thống đường sắt và giao diện hệ thống; xác định các thông tin, thông số, kích thước, vật liệu chủ yếu của các công trình, hạng mục công trình chính, hệ thống phương tiện, thiết bị của dự án; đủ cơ sở để xác định tổng mức đầu tư, dự toán gói thầu và lập bước thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED.
Mô hình BIM kèm theo thiết kế FEED phải đáp ứng các yêu cầu về mức độ nhu cầu thông tin phù hợp theo quy định tại hợp đồng tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, sử dụng định dạng gốc kèm theo định dạng mở.
Quy cách hồ sơ thiết kế FEED được quy định cụ thể như sau:
- Hồ sơ thiết kế FEED được lập cho từng công trình bao gồm thuyết minh thiết kế, các bản vẽ thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật thiết kế FEED và các tài liệu có liên quan;
- Bản vẽ thiết kế FEED phải có kích cỡ, khung tên; khung tên từng bản vẽ phải có tên, chữ ký của người trực tiếp thiết kế, người kiểm tra thiết kế, chủ trì thiết kế, chủ nhiệm thiết kế; được tư vấn lập dự án, lập thiết kế FEED ký tên và đóng dấu xác nhận;
- Hình thức của hồ sơ thiết kế FEED được thực hiện theo quy định của hợp đồng ký kết giữa tư vấn lập dự án với chủ đầu tư; phải bảo đảm tra cứu và bảo quản lâu dài.
Thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED
Nghị định quy định đối với dự án thực hiện lập thiết kế FEED thay cho thiết kế cơ sở tại Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED là bước thiết kế bản vẽ thi công hoặc thiết kế chi tiết theo thông lệ quốc tế, bảo đảm đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình.
Thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED được lập cho từng phần công trình, gói thầu hoặc toàn bộ công trình và đáp ứng yêu cầu sau:
a) Phù hợp với nội dung dự án đầu tư xây dựng được duyệt;
b) Phù hợp với thiết kế FEED được phê duyệt;
c) Tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng, đáp ứng yêu cầu về công năng sử dụng, công nghệ áp dụng (nếu có); bảo đảm an toàn chịu lực, an toàn trong sử dụng, mỹ quan, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng cháy, chữa cháy và điều kiện an toàn khác;
d) Có giải pháp thiết kế phù hợp và chi phí xây dựng hợp lý; bảo đảm đồng bộ trong từng công trình và với các công trình liên quan; bảo đảm điều kiện về tiện nghi, vệ sinh, sức khoẻ cho người sử dụng; tạo điều kiện cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em sử dụng công trình. Khai thác lợi thế và hạn chế tác động bất lợi của điều kiện tự nhiên; ưu tiên sử dụng vật liệu tại chỗ, vật liệu thân thiện với môi trường.
Trong quá trình lập thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED, chủ đầu tư được quyết định việc thay đổi một số nội dung nhằm đáp ứng hiệu quả và yêu cầu sử dụng trong trường hợp không dẫn đến việc phải điều chỉnh dự án theo quy định, bảo đảm các yêu cầu về quản lý chất lượng, an toàn xây dựng, lắp đặt được quy định tại thiết kế FEED.
Chủ đầu tư quyết định việc kiểm soát thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED, cụ thể:
a) Chủ đầu tư tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED với gói thầu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b ở dưới;
b) Đối với các công trình, hạng mục công trình thuộc gói thầu được thực hiện theo hình thức hợp đồng EPC, EC, EP: nhà thầu EPC, EC, EP tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED theo đúng thỏa thuận hợp đồng;
c) Nhà thầu EPC, EC, EP theo quy định tại điểm b khoản này gửi hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED đã được thẩm tra kèm theo Báo cáo kết quả thẩm tra đến chủ đầu tư để có ý kiến chấp thuận về sự phù hợp với thiết kế FEED, đáp ứng yêu cầu nêu tại hợp đồng đã ký kết trước khi phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED.
Trong quá trình triển khai dự án, trường hợp hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng đã được phê duyệt có sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, thì chủ đầu tư có trách nhiệm rà soát, báo cáo cơ quan thẩm quyền xem xét, quyết định để bảo đảm dự án phù hợp với yêu cầu kỹ thuật mới, thực tiễn triển khai dự án.
Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED
1. Việc đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế.
2. Đánh giá sự phù hợp của thiết kế xây dựng so với thiết kế FEED tại Báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt.
3. Kiểm tra kết quả thẩm tra của tổ chức tư vấn đánh giá về sự tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng và quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng cho công trình; về đáp ứng yêu cầu an toàn công trình, công trình lân cận và an toàn phòng cháy, chữa cháy.
4. Sự phù hợp giữa khối lượng chủ yếu của dự toán với khối lượng thiết kế; sự phù hợp của giá trị dự toán xây dựng công trình với giá trị tổng mức đầu tư xây dựng; việc xác định giá trị dự toán công trình.
5. Đánh giá về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện khảo sát, thiết kế và dự toán xây dựng đáp ứng yêu cầu theo quy định.
6. Đối với dự án sử dụng vốn khác hoặc thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED do nhà thầu lập theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 19 Nghị định này, nội dung thẩm định theo quy định tại 1, 2, 3 và 5 ở trên và các nội dung khác theo yêu cầu của chủ đầu tư.
Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED phải công khai, chống tham nhũng
Nghị định nêu rõ việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, tuân thủ các quy định về phòng chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED được thực hiện đối với toàn bộ các công trình hoặc từng công trình của dự án hoặc từng phần của công trình theo giai đoạn thi công công trình theo yêu cầu của chủ đầu tư nhưng phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về nội dung và các cơ sở tính toán giữa các giai đoạn và thiết kế FEED được thẩm định, phê duyệt.
Trường hợp điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED, việc lập, thẩm định, phê duyệt được thực hiện đối với các nội dung điều chỉnh hoặc cho toàn bộ nội dung của dự án, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế FEED./.