
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương hoàn thành rà soát, báo cáo kết quả xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình ký Công điện số 20/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/3/2026 về việc khẩn trương hoàn thành rà soát, báo cáo kết quả xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc.
Công điện gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tính đến hết ngày 26/02, Hệ thống 751 mới ghi nhận kết quả rà soát 266/482 dự án
Công điện nêu, ngày 15/02/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 14/CĐ-TTg về việc tập trung giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, khẩn trương hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm 2026.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người đứng đầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tập trung cao độ, xử lý dứt điểm các khó khăn của các dự án, đất đai; báo cáo đầy đủ các dự án đủ điều kiện áp dụng quy định tại Nghị quyết 265/2025/QH15 của Quốc hội ngày 11/12/2025 và định kỳ báo cáo kết quả xử lý đối với các dự án bộ, cơ quan trung ương và địa phương tự xử lý theo thẩm quyền trên Hệ thống 751 trước ngày 25/02/2026.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Tài chính (Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo 751), tính đến hết ngày 26/02/2026, Hệ thống 751 chỉ ghi nhận kết quả rà soát 266/482 dự án đề xuất áp dụng quy định tại mục 14 Nghị quyết 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, dự án, đất đai của 13 địa phương, còn lại 216 dự án, đất đai của thành phố Đà Nẵng (215 dự án, đất đai) và Bộ Xây dựng (01 dự án) chưa tiến hành rà soát, đề xuất.
Đồng thời, Hệ thống 751 ghi nhận báo cáo kết quả xử lý 832/1793 dự án của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tự xử lý theo thẩm quyền của 20 địa phương và 02 cơ quan trung ương; còn lại 961 dự án của 10 địa phương và 06 bộ, cơ quan trung ương chưa được rà soát, báo cáo kết quả xử lý.
Hoàn thiện dứt điểm việc rà soát, đề xuất các dự án, đất đai, cập nhật trên Hệ thống 751 trước ngày 15/3/2026
Nhằm mục tiêu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tập trung xử lý dứt điểm tồn tại của các dự án, sớm đưa nguồn lực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
1. Khẩn trương chỉ đạo cơ quan liên quan hoàn thiện dứt điểm việc rà soát, đề xuất các dự án, đất đai (bao gồm 482 dự án, đất đai đã thông báo và phát sinh (nếu có)) theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại văn bản số 1244/BTC-PTHT ngày 30/01/2026, đảm bảo phù hợp với quy định tại mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV cùng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 170/2024/QH15, gửi văn bản về Bộ Tài chính và cập nhật trên Hệ thống 751 trước ngày 15/3/2026, chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả rà soát, đề xuất.
2. Đối với các dự án do bộ, cơ quan trung ương và địa phương tự xử lý theo thẩm quyền, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 14/CĐ-TTg ngày 15/02/2026, định kỳ gửi báo cáo bằng văn bản về Bộ Tài chính và cập nhật kết quả xử lý trên Hệ thống 751 vào ngày 25 hằng tháng, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc chậm trễ triển khai, báo cáo làm ảnh hưởng tới tiến độ xử lý, tháo gỡ chung cho các dự án của Ban chỉ đạo.
3. Bộ Tài chính (Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo 751) đôn đốc các Bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương triển khai thực hiện Công điện này.

Quy định về khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Nghị định này quy định về chính sách thuế: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác; khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; phạm vi trách nhiệm, cách thức các chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác thực hiện khấu trừ, kê khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm khai thay, nộp thuế thay của tổ chức trong các trường hợp: hợp tác kinh doanh với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, ký hợp đồng với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh làm đại lý bán đúng giá đối với xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp; sử dụng hóa đơn điện tử; trách nhiệm của tổ chức cá nhân có liên quan.
Mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế
Về việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Nghị định quy định như sau:
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 06 tháng đầu năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh đến hết ngày 30/6 với cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 31/7 và thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong 06 tháng cuối năm chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.
Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 06 tháng cuối năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi có doanh thu lũy kế trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quý theo quy định tại Điều 10 Nghị định này kể từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng.
Từ năm tiếp theo, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nếu có doanh thu thực tế phát sinh từ 500 triệu đồng trở xuống thực hiện thông báo doanh thu theo quy định tại Điều 8 Nghị định này; trường hợp có doanh thu thực tế phát sinh trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng, Nghị định quy định việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân được thực hiện như sau:
Về khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp có doanh thu năm từ 50 tỷ đồng trở xuống thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo quý.
Trường hợp có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo tháng.
Về khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh lựa chọn nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế thực hiện khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thực hiện khai tạm nộp thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý trên cùng hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.
Số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp bằng thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế của tháng, quý và khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo năm.
Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân đã tạm nộp ít hơn số thuế đã khai tạm nộp, số thuế tạm nộp ít hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp bổ sung và không phải tính tiền chậm nộp.
Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp nhiều hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì thực hiện thủ tục xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.
Chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với mỗi giao dịch
Đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Nghị định quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác trong nước hoặc nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm thực hiện khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.
Hộ kinh doanh, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10 Nghị định này.
Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chỉ có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số hoặc vừa có hoạt động kinh doanh tại địa điểm kinh doanh cố định vừa có kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số nếu có doanh thu năm tổng hợp trên 03 tỷ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng và lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện tổng hợp doanh thu để khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo năm.
Số thuế thu nhập cá nhân đã được chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khấu trừ, nộp thay được trừ khi xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân và không phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế, không phải thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 8, Điều 10 Nghị định này.
Hợp đồng thuê bất động sản trước 01/01/2026 còn trên 6 tháng đã nộp thuế được điều chỉnh doanh thu không chịu thuế GTGT
Trường hợp khai thuế theo tháng thì hồ sơ khai thuế tháng 1, 2, 3/2026 gửi cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 20/4/2026; các quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp thuế, trường hợp tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân và các nội dung quản lý thuế khác tiếp tục thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện cho đến khi có văn bản thay thế.
Tờ khai khấu trừ thuế đối với hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, Bảng kê chi tiết số thuế đã khấu trừ của hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, Bảng kê chi tiết số tiền nộp thuế của chủ quản nền tảng thương mại điện tử, chứng từ khấu trừ thuế đối với hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.
Đối với các hợp đồng cho thuê bất động sản phát sinh trước thời điểm ngày 01/01/2026 và thời hạn còn lại của hợp đồng trên 06 tháng nếu đã nộp thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân thì được điều chỉnh mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 1 Điều 3, mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này, trường hợp mức doanh thu còn lại trên 500 triệu đồng thì thực hiện nộp thuế theo quy định tại Nghị định này và được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị định này (nếu có).
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong năm 2025 nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai, có mức doanh thu từ 03 tỷ đồng trở lên hoặc từ năm 2026 lựa chọn nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện xác định, ghi nhận giá trị hàng tồn kho, máy móc, thiết bị đang phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại thời điểm ngày 31/12/2025 để làm căn cứ xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân cho kỳ tính thuế năm 2026.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh lập Bảng kê hàng tồn kho, máy móc, thiết bị theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, lưu giữ tại hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và gửi 01 bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp bằng phương thức điện tử cùng hồ sơ khai thuế quý I/2026 đối với trường hợp khai thuế theo quý hoặc chậm nhất là ngày 20/4/2026 đối với trường hợp khai thuế theo tháng. Cơ quan thuế tiếp nhận thông tin để phục vụ công tác quản lý thuế.
Việc tiếp nhận bảng kê của cơ quan thuế không có giá trị pháp lý trong việc xác nhận hoặc hợp thức hóa nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác và đầy đủ của thông tin tại Bảng kê, trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật thì xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (05/3/2026).

Nội địa hóa tối đa các công việc liên quan đến đường sắt.
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 98/TB-VPCP ngày 5/3/2026 Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ bảy Ban chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt.
Theo Thủ tướng Chính phủ, chúng ta cần phải tự lực, tự cường, chủ động tiếp nhận chuyển giao công nghệ, chuyển trạng thái từ "làm thuê" cho nhà thầu nước ngoài, sang "làm chủ" và thuê chuyên gia, nhà thầu nước ngoài để triển khai các dự án đường sắt.
Khẩn trương rà soát, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn đồng bộ, thống nhất, liên thông, dùng chung trên phạm vi toàn quốc về lĩnh vực đường sắt và đường sắt đô thị; nội địa hóa tối đa có thể để các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp trong nước tham gia triển khai các công việc liên quan đến đường sắt.
Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch đường sắt theo không gian phát triển mới của đất nước, phát triển với tầm nhìn dài hạn 100 năm; quy hoạch phát triển tàu điện ngầm "tiến sâu vào lòng đất".
Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển đường sắt, gồm vốn nhà nước (đầu tư công trung hạn, tăng thu, tiết kiệm chi, phát hành trái phiếu Chính phủ); vốn tư nhân tham gia đầu tư theo phương thức PPP (BT, BOT, khai thác quỹ đất theo mô hình TOD); vốn vay nước ngoài; cần huy động tối đa sự đóng góp của nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, trên nguyên tắc lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ (hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, người dân, nhà nước).
Trong quá trình triển khai, tiếp tục đánh giá hiệu quả các dự án và có kế hoạch tối ưu hóa hiệu quả khai thác các tuyến đường sắt, đường sắt đô thị; kiểm tra, kiểm toán để đánh giá hiệu quả các dự án; rà soát thủ tục, tổng mức đầu tư, liên quan đến đấu thầu, chỉ định thầu để bảo đảm chặt chẽ, tránh tiêu cực, lãng phí.
Bảo đảm tính đồng bộ, liên thông các tuyến đường sắt đô thị
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu quá trình triển khai thực hiện các dự án, yêu cầu các cơ quan chủ quản, Ban quản lý dự án, các đơn vị tư vấn, các nhà thầu và nhất là các Thành viên Ban Chỉ đạo cần tiếp tục nỗ lực, cố gắng, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong triển khai các nhiệm vụ được giao; thực hiện đúng, đủ quy trình, thủ tục, thẩm quyền theo pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng; chống tiêu cực, tham nhũng.
Việc lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu (đấu thầu, chỉ định thầu) phải bảo đảm đúng quy định luật pháp và bảo đảm hiệu quả; không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, lãng phí tài sản… Các cơ quan chủ quản, chủ đầu tư sử dụng các "công cụ" kiểm tra, kiểm toán trước, trong và sau khi triển khai dự án nhằm chủ động phòng ngừa khuyết điểm, sai phạm…
Khẩn trương rà soát, xây dựng, sửa đổi bổ sung đầy đủ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về đường sắt, nhất là đường sắt đô thị để bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, nâng cao hiệu quả của hệ thống và tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia.
Tiếp tục rà soát định mức đơn giá, tổng mức đầu tư, bảo đảm tính đúng, tính đủ; không để "đội vốn" trong quá trình thực hiện; thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các Chủ đầu tư chủ động rà soát, kiểm tra, kiểm toán đơn giá, tổng mức đầu tư đối với các dự án đường sắt đô thị đang triển khai; kịp thời xử lý ngay vấn đề bất cập, không để khuyết điểm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, không để xảy ra tiêu cực, lãng phí…
Xây dựng, phát triển công nghiệp đường sắt độc lập tự chủ, tự lực tự cường
Cụ thể, về phát triển công nghiệp đường sắt, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tổng công ty đường sắt Việt Nam tiếp tục chủ động tiếp nhận các công nghệ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, nguồn lực tài chính, con người… xây dựng, phát triển công nghiệp đường sắt độc lập tự chủ, tự lực tự cường để phát triển Tập đoàn Công nghiệp đường sắt theo chủ trương của Thường trực Chính phủ.
Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chủ động nghiên cứu, xây dựng, chuyển giao công nghệ hệ thống thông tin, tín hiệu điều khiển, thẻ, vé,… để tham gia triển khai các tuyến đường sắt và chủ động làm việc với Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các tuyến đường sắt đô thị theo quy định.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng xây dựng chuẩn đào tạo, chương trình đào tạo và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đào tạo của ngành đường sắt tự chủ; Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo theo chức năng nhiệm vụ khẩn trương xem xét theo thẩm quyền, quy định đối với kiến nghị của Tổng công ty đường sắt Việt Nam về việc giao nhiệm vụ/đặt hàng đào tạo nhân lực phục vụ các dự án đường sắt đáp ứng tiến độ, chất lượng.
Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, cập nhật và kịp thời xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam trên cơ sở tiếp thu "tinh hoa" phát triển của thế giới về đường sắt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Đối với Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, Bộ Xây dựng chỉ đạo hoàn thành lập hồ sơ mời thầu gói thầu tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi xong tháng 3 năm 2026; tổ chức lựa chọn Tư vấn trong Quý II năm 2026. Phải bảo đảm lựa chọn được đối tác Tư vấn có kinh nghiệm, năng lực; khẩn trương hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội, trình Chính phủ trước 15 tháng 3 năm 2026.
Các địa phương và EVN phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, khẩn trương hoàn tất rà soát nhu cầu vốn năm 2026, báo cáo chính xác để Bộ Xây dựng phân khai kế hoạch vốn trước ngày 20 tháng 3 năm 2026. Chủ động triển khai ngay công tác kiểm đếm, xây dựng phương án tái định cư dựa trên cơ sở hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, không để chậm trễ khi dự án bước vào giai đoạn giải phóng mặt bằng.
Về Dự án tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo Ban Quản lý dự án hoàn thành Báo cáo Nghiên cứu kỹ thuật đầu kỳ Dự án thành phần 2 trong tháng 3 năm 2026, bảo đảm chất lượng, đúng quy định; chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao thúc đẩy phía Trung Quốc khởi động đàm phán Hiệp định xây dựng công trình cầu đường sắt qua biên giới trong tháng 3 năm 2026; chỉ đạo hoàn thành lựa chọn nhà thầu khảo sát, lập thiết kế kỹ thuật và ký hợp đồng trong tháng 4/2026; khẩn trương hoàn thành hồ sơ cắm mốc giải phóng mặt bằng đối với các đoạn tuyến ổn định, bàn giao cho địa phương ngay trong tháng 3 năm 2026.
Bộ Tài chính chủ động tính toán bố trí nguồn vốn từ tiết kiệm chi 5% đầu tư công và tăng thu năm 2025 để bảo đảm vốn thực hiện trong năm 2026.
Bộ Quốc phòng tiếp tục hỗ trợ, phối hợp với Bộ Xây dựng và các địa phương về phương án xử lý đất quốc phòng bị ảnh hưởng bởi dự án trước ngày 15 tháng 3 năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động hướng dẫn các địa phương thực hiện triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư; khai thác nguyên vật liệu, khoáng sản thông thường; đánh giá tác động môi trường dự án; bố trí các khu bãi đổ thải khi có vướng mắc…
Các địa phương trên tinh thần "rõ trách nhiệm", khẩn trương hoàn thành các thủ tục thỏa thuận với chủ đầu tư về: công trình giao cắt trên tuyến; phương án cấp nước, thoát nước; hoàn trả hạ tầng kỹ thuật; mỏ vật liệu, bãi đổ thải; phương án kiến trúc nhà ga, cầu; ngay sau khi nhận bàn giao cọc mốc GPMB, các địa phương phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, thực hiện ngay công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phấn đấu bàn giao mặt bằng sạch theo đúng tiến độ đề ra.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hoàn thành các thủ tục thỏa thuận về nguồn cấp điện cho dự án trong tháng 3 năm 2026. Triển khai ngay các tiểu dự án di dời công trình điện theo đúng tiến độ giải phóng mặt bằng chung.
Về tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và Hải Phòng - Móng Cái, Bộ Xây dựng chủ động làm việc với phía Trung Quốc trong tháng 3 năm 2026 để thống nhất thời điểm ký kết Thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật; chỉ đạo Tư vấn khẩn trương hoàn thiện báo cáo đầu kỳ trong tháng 3 năm 2026, làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo, bảo đảm hoàn thành quy hoạch trong năm 2026.
Bộ Xây dựng tiếp tục phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND thành phố Hải Phòng để hướng dẫn, tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục theo quy định để triển khai Dự án Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái.
Các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khẩn trương rà soát phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn chung về đường sắt đô thị để bảo đảm tính liên thông, đồng bộ, tính phổ quát, hiện đại và từng bước phát triển công nghiệp đường sắt trong nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 09 tháng 01 năm 2026 và Thường trực Chính phủ tại Thông báo số 68/TB-VPCP ngày 07 tháng 02 năm 2026.
Chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án tập trung cao độ cho công tác GPMB, thi công xây lắp; trong đó, đối với các dự án đang triển khai, gồm: tuyến số 3 đoạn Nhổn - Ga Hà Nội (đoạn đi ngầm); tuyến số 5 đoạn Văn Cao - Hòa Lạc, tuyến số 2 đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, tuyến số 2 TPHCM đoạn từ Bến Thành - Tham Lương), phải bảo đảm tiến độ, chất lượng, tuyệt đối an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Cho kiểm tra, trước, trong hoặc sau các dự án tuyến đường sắt Thành phố Hà Nội: tuyến số 5 Văn Cao - Hòa Lạc, tuyến số 2 Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo để phòng tiêu cực trong quá trình triển khai dự án.
Đối với các dự án có kế hoạch khởi công, đầu tư trong giai đoạn 2026-2030, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu 02 Thành phố báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng về kế hoạch triển khai các dự án có kế hoạch khởi công trong năm 2026 và những năm tiếp theo, đồng thời khẩn trương hoàn thiện các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật, phân công cụ thể bảo đảm 06 "rõ" để triển khai thực hiện, bảo đảm hiệu quả; hoàn thành trong tháng 03 năm 2026.
UBND thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục chủ động chỉ đạo tổ chức triển khai Dự án đường sắt đô thị Bến Thành - Cần Giờ bảo đảm hiệu quả, an toàn, chất lượng…; chỉ đạo rà soát, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách để hỗ trợ, khuyến khích nhà đầu tư triển khai dự án được thuận lợi.
UBND thành phố Hồ Chí Minh chủ động, phối hợp với các bộ, ngành cơ quan liên quan sớm giải quyết dứt điểm những vấn đề liên quan các nhà thầu triển khai dự án đường sắt tuyến số 1 Thành phố Hồ Chí Minh đoạn Bến Thành - Suối Tiên; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những nội dung vượt thẩm quyền (nếu có)...

Đưa vào khai thác các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đã hoàn thành xây dựng trước ngày 10/3
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 5/3/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi kiểm tra tiến độ dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông và dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát trên địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa.
Về các đoạn tuyến cao tốc thuộc dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông trên địa bàn các tỉnh, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo: Trong điều kiện khó khăn, bất lợi về thời tiết trong thời gian vừa qua, các chủ đầu tư, nhà thầu đã rất nỗ lực, tập trung nguồn lực, vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp", xuyên lễ, xuyên Tết", phát huy tinh thần "vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió", "chỉ bàn làm không bàn lùi" nhanh chóng khắc phục các thiệt hại, đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các dự án đúng và vượt tiến độ so với hợp đồng. Đến nay, trên địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa đã hoàn thành 214km tuyến chính đoạn từ đầu tuyến Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đến phía Nam hầm Cù Mông, chỉ còn 53km sẽ hoàn thành trong tháng 3 năm 2026 (41km/61km đoạn Quy Nhơn - Chí Thạnh do mưa bão cần hoàn thiện hệ thống an toàn giao thông, rãnh đỉnh, bậc nước và 12km/48km dự án Chí Thạnh - Vân Phong do mưa bão cần xử lý nền đất yếu).
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ biểu dương Bộ Xây dựng, các bộ, ngành, địa phương, các chủ đầu tư, các nhà thầu, công nhân, người lao động trên các công trường đã chủ động tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về mặt bằng, vật liệu xây dựng, tranh thủ thời tiết thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thi công và đặc biệt cảm ơn nhân dân nơi các dự án đi qua đã hy sinh lợi ích cá nhân, nhường đất, nhường nhà, nhường cơ sở kinh doanh, nơi thờ tự để bàn giao mặt bằng phục vụ thi công các dự án.
Đưa vào khai thác các đoạn tuyến đã hoàn thành xây dựng trước ngày 10/3
Để sớm hoàn thành các hạng mục còn lại của toàn bộ các dự án, đưa vào khai thác phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực phát triển, liên kết vùng cũng như phục vụ nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân và doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng chỉ đạo chủ đầu tư dự án và các cơ quan, đơn vị liên quan huy động mọi nguồn lực, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục nghiệm thu, đưa vào khai thác sử dụng đối với các đoạn tuyến đã hoàn thành thi công xây dựng trước ngày 10 tháng 3 năm 2026. Đối với 53km còn lại, yêu cầu các nhà thầu tập trung nguồn lực tài chính, tăng cường nhân lực, thiết bị, tranh thủ thời tiết thuận lợi tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp", đảm bảo chất lượng và hoàn thành trong tháng 3 năm 2026.
Đồng thời, Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn thiện các thủ tục liên quan và tổ chức triển khai thi công hoàn thiện các ống hầm để đưa vào khai thác đồng bộ trong năm 2026; đẩy nhanh tiến độ triển khai hệ thống giám sát điều hành giao thông, trạm dừng nghỉ theo quy định, bảo đảm đưa vào khai thác đồng bộ với các dự án cao tốc; phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương xử lý dứt điểm các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, hoàn thành trước ngày 15 tháng 3 năm 2026.
Ủy ban nhân dân các tỉnh nơi có dự án cao tốc đi qua rà soát, bổ sung các nút giao, điểm kết nối với tuyến cao tốc mới được đầu tư (nếu cần) để phát huy tối đa hiệu quả đầu tư dự án; chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh, trong đó lưu ý phải gắn quy hoạch không gian phát triển mới dọc các tuyến cao tốc, từ đó tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản xuất kinh doanh, khu kinh tế, khu công nghiệp để tận dụng tối đa lợi ích dự án mang lại.
Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xử lý dứt điểm các vướng mắc về giải phóng mặt bằng còn lại của dự án, đặc biệt tại các vị trí trạm dừng nghỉ, hoàn thành trước ngày 15 tháng 3 năm 2026; tiếp tục quan tâm, động viên người dân ở các khu vực tái định cư, có giải pháp bảo đảm người dân trong vùng dự án di dời đến nơi ở mới phải có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ.
Tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, bảo vệ công trình hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường điện, đường cáp của hệ thống điều hành giao thông thông minh (ITS, ETC,…), nghiêm chỉnh chấp hành các quy định khi tham gia giao thông trên đường cao tốc; đồng thời chỉ đạo lực lượng công an và chính quyền cơ sở chủ động, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Bộ Công an chỉ đạo Cục Cảnh sát giao thông phối hợp, hỗ trợ Bộ Xây dựng, Chủ đầu tư, các nhà thầu trong quá trình nghiệm thu, bàn giao, đưa các dự án vào vận hành khai thác, hoàn thành trong tháng 3 năm 2026; bố trí lực lượng tuần tra, hướng dẫn, nhắc nhở người tham gia giao thông thực hiện theo phương án tổ chức giao thông ngay khi đưa các dự án vào khai thác; xử lý nghiêm đối với các trường hợp tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm gây mất an toàn giao thông trên tuyến, đảm bảo khai thác hiệu quả, an toàn, thông suốt.
Phấn đấu hoàn thành đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát trong tháng 6
Về dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát, Thủ tướng Chính phủ biểu dương UBND tỉnh Gia Lai đã rất nỗ lực, trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện dự án đường cất hạ cánh số 2 Cảng hàng không Phù Cát bảo đảm tiến độ, chất lượng như đã cam kết. Thời gian vừa qua, Chính phủ đã giao một số Cảng hàng không, sân bay cho các địa phương, doanh nghiệp triển khai đầu tư, quản lý, vận hành khai thác (Cảng hàng không Phú Quốc, Vân Đồn, sân bay Quảng Trị…) và thực tiễn cho thấy kết quả triển khai rất tốt, điều này cho thấy tính đúng đắn, khả thi của chủ trương phân cấp, phân quyền cho các địa phương, doanh nghiệp tham gia đầu tư, quản lý, vận hành khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng của đất nước, kể cả trong lĩnh vực hàng không.
Để sớm hoàn thành đường cất hạ cánh số 2, phát huy hiệu quả đầu tư, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Gia Lai, chủ đầu tư, nhà thầu dự án tiếp tục tập trung nguồn lực, tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ thi công dự án, hoàn thành công tác xây dựng đường cất hạ cánh thứ 2 trong tháng 6 năm 2026, bảo đảm chất lượng để đưa vào khai thác trong quý III năm 2026.
Bộ Xây dựng, UBND tỉnh Gia Lai nghiên cứu phương án giao Cảng hàng không Phù Cát cho tỉnh Gia Lai quản lý khai thác theo đúng chủ trương phân cấp phân quyền, phát huy tối đa lợi thế của địa phương.
UBND tỉnh Gia Lai tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai, sớm hoàn thành đưa vào khai thác tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hiệu quả đầu tư của Cảng hàng không Phù Cát./.