Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 127/2026/NĐ-CP ngày 6/4/2026 quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal.

Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư, sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ Halal
Nghị định này quy định về quản lý chất lượng và các chính sách hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal bao gồm: quy định về yêu cầu chất lượng, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, hoạt động thử nghiệm, chứng nhận Halal, kiểm tra, xử lý vi phạm quản lý chất lượng và chính sách hỗ trợ đối với sản phẩm, dịch vụ Halal.
Nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal
Nghị định nêu rõ các nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal. Theo đó, việc quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác có liên quan, đồng thời tuân thủ các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và không phân biệt đối xử trong mọi hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động đánh giá sự phù hợp Halal. Tính thống nhất được thể hiện qua việc áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình và yêu cầu Halal trên phạm vi toàn quốc. Tính minh bạch được đảm bảo thông qua việc công khai, dễ tiếp cận các thông tin về chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, quy trình chứng nhận, danh sách các tổ chức chứng nhận Halal được công nhận hoặc thừa nhận, và các thông tin liên quan khác.
Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn và quy trình quản lý Halal của Việt Nam phải được thực hiện trên nguyên tắc hài hòa, ưu tiên tham chiếu và áp dụng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và thông lệ quốc tế được thừa nhận rộng rãi về Halal bao gồm tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và Viện Tiêu chuẩn và Đo lường của các quốc gia Hồi giáo (SMIIC), các hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex Alimentarius Commission) có liên quan đến thực phẩm Halal, các yêu cầu kỹ thuật và quy định của các thị trường xuất khẩu trọng điểm.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng Hồi giáo, đối với các sản phẩm, dịch vụ Halal; đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ Halal tuân thủ pháp luật. Ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng mang dấu hiệu Halal, gian lận thương mại, quảng cáo sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về tính Halal của sản phấm, dịch vụ.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ Halal; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Halal Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal được thực hiện trên cơ sở đánh giá rủi ro, trong đó ưu tiên tập trung nguồn lực kiểm soát vào các công đoạn, quy trình, thành phần hoặc yếu tố có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến tính Halal, an toàn và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ.
Đảm bảo tính nguyên vẹn, tính xác thực và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm Halal trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ khâu lựa chọn, khai thác, nuôi trồng, thu mua nguyên liệu đầu vào, qua các công đoạn sản xuất, chế biến, đóng gói, cho đến khâu vận chuyển, bảo quản, phân phối và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
Tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal
Theo Nghị định quy định, tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal được xây dựng, công bố và áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Quá trình xây dựng, sửa đổi tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm, dịch vụ Halal phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện Bộ Dân tộc và Tôn giáo và chuyên gia là người Hồi giáo có chuyên môn về các yêu cầu Halal trong quá trình tham vấn, thẩm định các nội dung liên quan.
Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về sản phẩm, dịch vụ Halal thực hiện như sau:
Trường hợp sản xuất sản phẩm, dịch vụ Halal để xuất khẩu: Cơ sở sản xuất áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ Halal theo yêu cầu, thỏa thuận hoặc hợp đồng với tổ chức, cá nhân nhập khẩu.
Trường hợp sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm, dịch vụ Halal để tiêu thụ trong nước: Cơ sở sản xuất hoặc nhập khẩu áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc có thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo về sản phẩm, dịch vụ Halal.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở đối với sản phẩm, dịch vụ Halal của mình đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước Hồi giáo tương ứng. Tiêu chuẩn cơ sở phải đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu chung của các tiêu chuẩn Halal quốc tế, khu vực được thừa nhận rộng rãi.
Các tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ Halal nêu trên không được trái với các quy định pháp luật của Việt Nam.
Yêu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ Halal
Nghị định cũng quy định rõ các yêu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ Halal:
1. Sản phẩm Halal lưu thông trên thị trường Việt Nam phải bảo đảm:
a- Đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn công bố áp dụng theo Điều 6 của Nghị định này và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan.
b- Nguyên liệu và phụ gia phải là Halal, không chứa thành phần Haram hoặc Najis; nguyên liệu động vật phải từ nguồn Halal và được giết mổ theo đúng quy trình Halal được quy định trong tiêu chuẩn công bố áp dụng.
c- Quá trình sản xuất, chế biến phải đảm bảo vệ sinh theo các yêu cầu của tiêu chuẩn đã công bố áp dụng và có biện pháp đảm bảo ngăn ngừa nhiễm chéo với các yếu tố không Halal.
d- Việc bao gói, bảo quản, vận chuyển và trưng bày sản phẩm phải bảo toàn tính Halal của sản phẩm, không sử dụng vật liệu Haram, Najis (cho bao bì trực tiếp) và phải tách biệt để tránh nhiễm chéo hoặc nhầm lẫn.
đ- Tuân thủ pháp luật về nhãn hàng hóa và quy định về sử dụng dấu chứng nhận Halal (nếu có).
e- Lượng hàng hóa đóng gói sẵn phải tuân thủ pháp luật về đo lường.
Dịch vụ Halal phải đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuân công bố áp dụng theo Điều 6 của Nghị định này và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan. Sản phẩm Halal khi xuất khẩu ra thị trường nước ngoài phải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật của nước nhập khẩu hoặc các yêu cầu trong thỏa thuận, hợp đồng thương mại quốc tế đã ký kết.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 95/NQ-CP ngày 6/4/2026 về hồ sơ Đề án thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương.
Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ thông qua hồ sơ Đề án thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương theo đề nghị của Bộ Nội vụ.
Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến của các Thành viên Chính phủ để hoàn thiện Tờ trình, Đề án, Dự thảo Nghị quyết Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập 10 phường của tỉnh Đồng Nai và Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương theo quy định.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký Tờ trình, Đề án, Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý hồ sơ Đề án thành lập 10 phường của tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương theo ý kiến của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội.
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung hồ sơ Đề án, các dự thảo Nghị quyết và các vấn đề đề xuất, báo cáo; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu gửi Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định; chủ động báo cáo, giải trình với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.
Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

Sửa quy định về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng
Chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng
Trong đó, Nghị định 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 17 của Nghị định số 140/2021/NĐ-CP về chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng.
Theo đó, học sinh được Nhà nước đảm bảo, tiêu chuẩn ăn định lượng mỗi tháng gồm: 20 kg gạo tẻ; 1,5 kg thịt lợn; 1,5 kg cá; 08 quả trứng gà hoặc trứng vịt; 0,5 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; 17 kg rau xanh, củ, quả; 0,2 lít dầu ăn; gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ; chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.
Lương thực, thực phẩm, chất đốt bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá tại địa phương.
Chế độ ăn trong các ngày lễ, tết của học sinh được tăng thêm nhưng không được quá 5 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
Ngoài tiêu chuẩn ăn nêu trên, học sinh được sử dụng tiền của mình để ăn thêm và phải thông qua hệ thống lưu ký và căng tin phục vụ sinh hoạt cho học sinh của trường giáo dưỡng.
Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp với thực tế để đảm bảo học sinh ăn hết tiêu chuẩn ăn. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định chế độ ăn đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích trên cơ sở đề xuất của y sĩ hoặc bác sĩ trường giáo dưỡng hoặc theo chỉ định của bác sĩ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng tổng định lượng mức ăn không quá 5 lần tiêu chuẩn.
Mỗi phân hiệu của trường giáo dưỡng được tổ chức ít nhất một bếp ăn tập thể. Định mức dụng cụ cấp dưỡng của một bếp tập thể dùng cho 100 học sinh gồm: 1 tủ đựng thức ăn có lưới hoặc kính che kín, 3 chảo to, 1 chảo nhỏ, 1 nồi to dùng trong 3 năm; các loại dao, thớt, chậu rửa bát, rổ, rá, bát, đũa dùng trong 01 năm và các dụng cụ, trang thiết bị cấp dưỡng cần thiết khác phục vụ việc nấu ăn và chia khẩu phần ăn cho học sinh.
Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 1 mâm ăn của 6 học sinh bao gồm 1 lồng bàn, 1 xoong đựng cơm, 1 xoong đựng canh dùng trong 2 năm; 2 đĩa đựng thức ăn, 1 bát đựng nước chấm, 1 muôi múc cơm, 1 muôi múc canh dùng trong 1 năm.
Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 1 học sinh ăn riêng theo suất gồm 1 cặp lồng có 4 ngăn hoặc khay có 5 ngăn bằng nhựa chuyên dùng đựng đồ ăn cơm và 1 thìa ăn cơm bằng nhựa dùng trong 2 năm.
Học sinh được sử dụng điện, nước đảm bảo yêu cầu sinh hoạt hằng ngày.
Chế độ mặc, đồ dùng sinh hoạt của học sinh trong năm được cấp như sau: 2 bộ quần áo dài; 1 bộ quần áo dài đồng phục; 2 bộ quần áo lót; 2 đôi dép nhựa; 1 áo mưa nilông; 1 mũ cứng; 1 mũ vải; 3 khăn mặt; 3 bàn chải đánh răng; 2 chiếu cá nhân; 800g kem đánh răng; 3,6 kg xà phòng; 800 ml dầu gội đầu.
Học sinh vào trường giáo dưỡng được cấp 1 màn, 1 chăn sợi, 1 gối vải cotton lõi bông. Đối với các trường giáo dưỡng từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc, mỗi học sinh được cấp 1 áo ấm, 2 đôi tất, 1 mũ len và 1 chăn bông có vỏ nặng không quá 2 kg dùng trong 2 năm. Đối với học sinh phải chấp hành từ 12 tháng trở lên thì được cấp 2 lần (trừ chăn bông).
Học sinh được mang vào trường giáo dưỡng những đồ dùng cá nhân thiết yếu để sử dụng theo quy định của Bộ Công an. Học sinh nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh cá nhân không quá 5 kg gạo tẻ/học sinh/tháng.
Học sinh tham gia lao động, học nghề đối với những công việc mà pháp luật quy định phải có bảo hộ lao động thì mỗi năm phát thêm 2 bộ quần áo, đồ bảo hộ lao động, học nghề cho học sinh.
Bộ trưởng Bộ Công an quy định mẫu quần áo đồng phục, đồ bảo hộ lao động, học nghề của học sinh.
Chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh
Bên cạnh đó, Nghị định 108/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 19 về chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh.
Theo đó, học sinh khi đến trường giáo dưỡng được y tế của trường giáo dưỡng tổ chức khám sức khỏe theo đúng quy định. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, học sinh được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, cụ thể: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, kiểm tra các thông số về nhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể, khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa, khám cận lâm sàng theo chỉ định của bác sĩ. Chi phí khám sức khỏe định kỳ cho học sinh được thanh toán theo khung giá quy định của Bộ Y tế. Kết quả khám sức khỏe định kỳ của học sinh được lưu vào hồ sơ để quản lý. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế cho học sinh được cấp tương đương 7 kg gạo tẻ/01 học sinh/01 tháng.
Trường hợp học sinh khi bị bệnh hoặc thương tích được điều trị tại bệnh xá trường giáo dưỡng, nếu vượt quá khả năng điều trị được chuyển đến cơ sở y tế phù hợp để điều trị và thông báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của học sinh biết, phối hợp với nhà trường chăm sóc, điều trị. Trường hợp tiếp tục vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, đồng thời báo cáo Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an.
Đối với học sinh có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tâm thần của Nhà nước nơi đơn vị đóng quân tổ chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật.
Đối với học sinh có tiền sử nghiện ma tuý, căn cứ điều kiện, khả năng trường giáo dưỡng tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng; trường hợp học sinh có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy thì phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức cai nghiện theo quy định.
Trường giáo dưỡng thường xuyên có biện pháp phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng, chống lây nhiễm, điều trị HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác cho học sinh.
Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho học sinh do Nhà nước chi trả, trừ trường hợp người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp của học sinh tự nguyện chi trả kinh phí điều trị bệnh. Học sinh đang có bảo hiểm y tế tiếp tục được hưởng bảo hiểm y tế, phần kinh phí phải trả thêm ngoài bảo hiểm do Nhà nước cấp. Trường hợp có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ khả năng điều trị mà tự nguyện khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho học sinh thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét quyết định.
Ngoài ra, Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung Điều 24 quy định về chế độ thăm gặp người thân thích và chế độ liên lạc theo hướng quy định cụ thể số lần, tăng số giờ thăm gặp, liên lạc; bổ sung quy định sử dụng ứng dụng VNeID để làm thủ tục; bổ sung hình thức gửi thư và nhận thư qua đường bưu chính; bổ sung hình thức liên lạc là kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử; bỏ quy định học sinh có liên quan đến vụ án hình sự khác đang được xem xét, xử lý thì không được liên lạc điện thoại với người thân thích.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/05/2026.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 624/QĐ-TTg ngày 6/4/2026 Phê duyệt Đề án "Tăng cường năng lực cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035".

Tăng cường năng lực cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035
Đề án "Tăng cường năng lực cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân phục vụ phát triển điện hạt nhân đến năm 2035" (Đề án) được xây dựng trên quan điểm bảo đảm đủ năng lực, nguồn lực và cơ cấu tổ chức hợp lý cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân một cách tập trung, thống nhất ở trung ương; tự chủ chiến lược về quản lý và khả năng điều phối về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân phù hợp với hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bảo đảm đầy đủ chỉ tiêu biên chế công chức và số lượng người làm việc; ưu tiên xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt phục vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh đối với các dự án điện hạt nhân, nhằm từng bước làm chủ toàn bộ quy trình quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với các dự án nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Đầu tư đầy đủ và đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết dựa trên công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn, an ninh hạt nhân; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân; quan trắc và cảnh báo các sự cố phóng xạ; thông tin tuyên truyền về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
Tăng cường hợp tác với cơ quan quản lý về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân của các quốc gia cung cấp công nghệ điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu cho Việt Nam nhằm học tập kinh nghiệm, xây dựng và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.
Đến năm 2030, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có tối thiểu 288 người
Mục tiêu chung của Đề án là kiện toàn chức năng, cơ cấu tổ chức; bổ sung và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, hiện đại và bảo đảm nguồn lực tài chính cho Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có thể thực hiện tự chủ chiến lược trong quản lý và khả năng điều phối về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với các dự án nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, phù hợp với hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Giai đoạn 2026 - 2030, Đề án đặt mục tiêu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
Đến năm 2030, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có tối thiểu 288 người, trong đó có 150 công chức và 138 viên chức.
Tuyển chọn và đào tạo các cán bộ trong một số lĩnh vực làm nòng cốt chủ trì công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát dự án điện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Bảo đảm đủ nhân lực các chuyên ngành cần thiết để phục vụ công tác quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và dự án lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu theo hướng dẫn của cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp để thu hút, trọng dụng cán bộ, chuyên gia làm việc tại Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.
Phấn đấu đến năm 2035 Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có thể tự chủ được 70% về năng lực thẩm định, giám sát an toàn các dự án điện hạt nhân
Giai đoạn 2031 - 2035, phát triển Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có năng lực, nguồn lực thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2 và sẵn sàng triển khai đối với các dự án điện hạt nhân tiếp theo.
Đến năm 2035, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có tối thiểu 388 người, trong đó có 220 công chức và 168 viên chức.
Phấn đấu đến năm 2035 Cục An toàn bức xạ và hạt nhân có thể tự chủ được 70% về năng lực thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh các dự án điện hạt nhân và 100% đối với dự án lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu. Năng lực hỗ trợ kỹ thuật về thẩm định, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn và an ninh hạt nhân; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân; quan trắc và cảnh báo các sự cố phóng xạ; thông tin tuyên truyền về an toàn và an ninh hạt nhân đạt chuẩn mực quốc tế đối với các quốc gia.
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đặt ra các nhiệm vụ và giải pháp như kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và nhân lực; nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật; chuyển đổi số và quản trị hiện đại; tăng cường hợp tác quốc tế; xây dựng năng lực ứng phó sự cố và an ninh hạt nhân.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 626/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030.

Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh ở thị trường nước ngoài
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh ở thị trường nước ngoài
Theo Quyết định, Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình) được xây dựng theo định hướng tập trung giải quyết các điểm nghẽn về thể chế, chính sách để khuyến khích, tạo thuận lợi và kiểm soát rủi ro đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài; bảo đảm cơ chế tiếp cận thị trường các nguồn lực (đầu tư, tài chính, hạ tầng, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực...) thông thoáng và thủ tục hành chính tinh gọn, tương thích với các nền kinh tế có sức cạnh tranh cao.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh ở thị trường nước ngoài đối với các ngành, lĩnh vực và thị trường mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh quốc tế, có giá trị gia tăng và tiềm năng lan tỏa cao; tập trung đầu tư chiến lược, mua bán và sáp nhập (M&A), xây dựng trung tâm phân phối, kho ngoại quan, khu công nghiệp, hệ thống bán buôn và bán lẻ, đại lý, văn phòng đại diện, văn phòng nghiên cứu và phát triển (R&D) và dịch vụ sau bán hàng tại thị trường nước ngoài.
Ưu tiên các doanh nghiệp có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và có năng lực cạnh tranh vượt trội trong một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, có khả năng dẫn dắt ngành, lĩnh vực; tạo sức lan tỏa trong chuỗi giá trị; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có mô hình kinh doanh toàn cầu.
Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam gia tăng sự hiện diện ở nước ngoài một cách toàn diện
Chương trình đặt mục tiêu chung khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam gia tăng sự hiện diện ở nước ngoài một cách toàn diện, hiệu quả và bền vững cả về quy mô và chất lượng thông qua hoạt động đầu tư, kinh doanh quốc tế và hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tối thiểu 10.000 lượt doanh nghiệp được đào tạo về triển khai hoạt động đầu tư và kinh doanh toàn cầu; 1.000 doanh nghiệp được tư vấn và xây dựng kế hoạch vươn ra thị trường quốc tế; tối thiểu 100 doanh nghiệp được hỗ trợ chuyên sâu, toàn diện để đầu tư ra nước ngoài, trong đó 30% doanh nghiệp đầu tư theo phương thức M&A.
Tối thiểu 100 doanh nghiệp được hỗ trợ chuyên sâu, toàn diện từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất đến phân phối và xây dựng thương hiệu quốc tế để tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, trong đó, tối thiểu 20 doanh nghiệp lớn trong các ngành mũi nhọn, chiến lược tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Tối thiểu 100 doanh nghiệp được hỗ trợ chuyên sâu, toàn diện hoạt động hiệu quả trên các sàn giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới của Việt Nam và quốc tế, trong đó, tối thiểu 10 doanh nghiệp đạt doanh thu xuất khẩu trực tuyến trên 10 triệu USD.
5 nhiệm vụ, giải pháp
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đặt ra 5 nhiệm vụ, giải pháp sau:
1- Tạo lập khung thể chế đồng bộ, minh bạch và thuận lợi nhằm khuyến khích, hỗ trợ và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh tại thị trường nước ngoài.
2- Xây dựng nền tảng thông tin, nhận thức và năng lực vươn ra thị trường.
3- Khuyến khích, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là đầu tư M&A để tiếp cận nguồn lực thế giới, mở rộng không gian tăng trưởng kinh tế và tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
4- Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong xuất khẩu và tăng cường mức độ độc lập, tự chủ chiến lược của nền kinh tế và phát triển bền vững.
5- Tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động thương mại số xuyên biên giới nhằm thúc đẩy tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và bền vững./.