In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/5/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/5/2026.

07/05/2026 17:59
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/5/2026- Ảnh 1.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với cá nhân là 500.000.000 đồng và đối với tổ chức là 1.000.000.000 đồng.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp

Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2026/NĐ-CP ngày 06/5/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt liên quan đến việc lấn, chiếm và sử dụng môi trường rừng trái quy định.

Nghị định này gồm 4 chương, 42 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lâm nghiệp như: Lấn, chiếm rừng; sử dụng môi trường rừng trái quy định; các vi phạm quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý rừng bền vững; hồ sơ, thủ tục khai thác lâm sản có nguồn gốc hợp pháp; khai thác lâm sản trong rừng trồng trái pháp luật; khai thác rừng tự nhiên trái pháp luật; quản lý giống cây trồng lâm nghiệp; trồng rừng; bảo vệ rừng; phòng cháy và chữa cháy rừng gây cháy rừng; phòng trừ sinh vật hại rừng; phá hủy các công trình bảo vệ và phát triển rừng; phá rừng; bảo vệ động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật; tàng trữ, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến lâm sản trái pháp luật; quản lý hồ sơ lâm sản trong vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến lâm sản…

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, người có thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với cá nhân là 500.000.000 đồng và đối với tổ chức là 1.000.000.000 đồng.

Phạt tới 80 triệu đồng đối với các hành vi lấn, chiếm rừng

Nghị định quy định xử phạt các hành vi lấn, chiếm rừng với các mức phạt cụ thể như sau:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích dưới 1.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích dưới 500 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích dưới 100 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 m2.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 5.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 500 m2 đến dưới 3.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 100 m2 đến dưới 2.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 50 m2 đến dưới 1.000 m2.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 4.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 3.000 m2.

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 10.000 m2 đến dưới 20.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 8.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 6.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 4.000 m2.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 20.000 m2 đến dưới 30.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 8.000 m2 đến dưới 10.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 6.000 m2 đến dưới 8.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 5.000 m2.

6. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 m2 đến dưới 40.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 m2 đến dưới 15.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 8.000 m2 đến dưới 12.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 7.000 m2.

7. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 40.000 m2 đến dưới 50.000 m2;

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 15.000 m2 đến dưới 20.000 m2;

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 12.000 m2 đến dưới 15.000 m2;

d) Rừng đặc dụng có diện tích từ 7.000 m2 đến dưới 10.000 m2.

8. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 50.000 m2 trở lên;

b) Rừng sản xuất có diện tích 20.000 m2 trở lên;

c) Rừng phòng hộ có diện tích 15.000 m2 trở lên;

d) Rừng đặc dụng có diện tích 10.000 m2 trở lên.

9. Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 nêu trên.

10. Mức phạt hành vi lấn, chiếm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 nêu trên áp dụng đối với rừng trồng. Trường hợp lấn, chiếm rừng tự nhiên thì áp dụng mức phạt bằng hai lần đối với hành vi tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 nêu trên.

11. Hành vi lấn đất hoặc chiếm đất nông nghiệp là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà không có rừng thì xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Phạt từ 4 - 6 triệu đồng đối với hành vi tổ chức tham quan, du lịch trong rừng khi chưa được phép

Đối với hành vi sử dụng môi trường rừng trái quy định, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Tổ chức tham quan, du lịch trong rừng mà không được phép của chủ rừng;

b) Nuôi, trồng, thu hoạch cây dược liệu trong rừng phòng hộ, rừng sản xuất mà không đúng phương án theo quy định.

2. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

a) Tổ chức các dịch vụ du lịch, kinh doanh trong rừng mà không được phép của chủ rừng;

b) Tổ chức nghỉ dưỡng, giải trí trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng;

c) Nuôi, trồng phát triển hoặc thu hoạch cây dược liệu ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; những khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn có độ dốc trên 30 độ, vùng bờ biển bị xói lở thuộc rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển. Trừ trường hợp được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận và phù hợp với phương án nuôi, trồng phát triển, thu hoạch cây dược liệu trong rừng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

d) Ngâm, ủ, sấy, bảo quản và chế biến cây dược liệu trong rừng.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi đầu tư hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng phòng hộ, rừng sản xuất thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Không lập dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí;

b) Lập dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí nhưng không phù hợp với đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi đầu tư hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Không lập dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí;

b) Lập dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí nhưng không phù hợp với đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 nêu trên.

6. Người có hành vi vi phạm các quy định nêu trên mà gây thiệt hại đến rừng hoặc lâm sản thì bị xử phạt theo Điều 15, Điều 16 hoặc Điều 23 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/6/2026; bãi bỏ Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; Điều 1 Nghị định số 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; thú y; chăn nuôi.

Cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong tổ chức lấy mẫu, giám định và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp giám định ADN

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/2026/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong tổ chức lấy mẫu, giám định và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin bằng phương pháp giám định ADN.

Cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện nhiệm vụ lấy mẫu, giám định ADN hài cốt liệt sĩ và giám định ADN mẫu thân nhân liệt sĩ

Về nội dung, định mức chi lấy mẫu hài cốt liệt sĩ, Nghị quyết quy định nội dung chi, bao gồm: thuê phông, bạt; dụng cụ, vật tư lấy mẫu; dụng cụ, vật tư bảo quản, lưu trữ mẫu tạm thời; vận chuyển, bàn giao mẫu cho đơn vị giám định ADN; thuê nhân công, mua vật tư, trang bị bảo đảm cho các hoạt động khai quật, cất bốc, sửa lại vỏ mộ sau khi lấy mẫu, cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu theo quy định; các khoản chi hợp lý, hợp lệ khác có liên quan trực tiếp (bao gồm mua quách/tiểu trong trường hợp bị hư hỏng do khai quật lấy mẫu).

Mức chi tối đa là 6.000.000 đồng/mộ. Việc thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước trên cơ sở hồ sơ thực tế và không vượt mức chi tối đa cho phép nêu trên.

Về mức chi tối đa giám định ADN mẫu hài cốt liệt sĩ và giám định ADN mẫu thân nhân liệt sĩ, Nghị quyết cho phép áp dụng mức chi tối đa đối với giám định ADN mẫu hài cốt liệt sĩ là 14.102.000 đồng/mẫu và đối với giám định ADN mẫu thân nhân liệt sĩ là 3.480.331 đồng/mẫu.

Việc thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước trên cơ sở hồ sơ thực tế và không vượt mức chi tối đa cho phép nêu trên.

Thực hiện xử lý dứt điểm các vấn đề tồn đọng trước thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành như sau:

Đối với mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu thân nhân liệt sĩ đã được tiếp nhận nhưng chưa được giám định ADN, Chính phủ cho phép áp dụng mức chi tối đa giám định ADN mẫu hài cốt liệt sĩ và giám định ADN mẫu thân nhân liệt sĩ ở trên để thực hiện giám định ADN và thanh toán kinh phí theo quy định.

Đối với mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu thân nhân liệt sĩ đã được giám định ADN nhưng chưa thanh toán kinh phí, Chính phủ cho phép áp dụng mức chi tối đa là 4.685.000 đồng/mẫu để thanh quyết toán. Các đơn vị giám định lập hồ sơ đề nghị thanh toán trên cơ sở hóa đơn, chứng từ hợp lệ và được cơ quan chủ quản xác nhận, gửi Bộ Nội vụ xem xét, thực hiện thanh quyết toán theo quy định. Việc thanh toán được thực hiện theo hồ sơ thực tế và không vượt mức chi tối đa cho phép.

Chính phủ yêu cầu Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ đạo các đơn vị giám định ADN trực thuộc tổ chức thực hiện giám định ADN mẫu hài cốt liệt sĩ theo địa bàn được Ban Chỉ đạo quốc gia tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ phân công.

Bộ Công an lựa chọn đơn vị phối hợp thu nhận và phân tích ADN mẫu thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin đảm bảo quy định của Luật Căn cước.

Chế độ, chính sách đối với tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu thân nhân liệt sĩ

Đối với người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, ngoài chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác theo quy định của pháp luật, người trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ được hưởng thêm các chế độ sau:

- Hỗ trợ tiền ăn thêm mức 72.000 đồng/người/ngày, tính theo số ngày thực tế làm nhiệm vụ.

- Hỗ trợ tiền bồi dưỡng bằng 0,2 lần mức lương cơ sở/người/ngày, tính theo số ngày thực tế làm nhiệm vụ. Trong ngày thực tế làm nhiệm vụ, nếu thời gian làm việc dưới 04 giờ thì được tính bằng 1/2 ngày; từ đủ 04 giờ trở lên thì được tính bằng 01 ngày. Khi hưởng chế độ bồi dưỡng theo điểm này thì không đồng thời hưởng chế độ công tác phí theo quy định.

Đối với người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được hưởng chế độ sau:

- Hỗ trợ tiền ăn thêm mức 72.000 đồng/người/ngày, tính theo số ngày thực tế làm nhiệm vụ.

- Hỗ trợ tiền bồi dưỡng bằng 0,3 lần mức lương cơ sở/người/ngày, tính theo số ngày thực tế làm nhiệm vụ. Trong ngày thực tế làm nhiệm vụ, nếu thời gian làm việc dưới 04 giờ thì được tính bằng 1/2 ngày; từ đủ 04 giờ trở lên thì được tính bằng 01 ngày.

Nghị quyết nêu rõ, người thực hiện nhiệm vụ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ được hưởng chế độ theo quy định tại Nghị định số 281/2025/NĐ-CP ngày 29/10/2025 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với cá nhân, tổ chức làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thì không hưởng chế độ, chính sách quy định ở trên.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 6/5/2026 và được thực hiện đến hết ngày 31/7/2026.

Chính phủ thông qua 3 chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)

Tại Nghị quyết số 123/NQ-CP ngày 6/5/2026, Chính phủ đã thông qua 03 chính sách của Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).

Quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi

Cụ thể, đối với chính sách 1 về quy định chặt chẽ điều kiện giải quyết nuôi con nuôi nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng: sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện của người được nhận làm con nuôi; điều kiện của người nhận con nuôi; thẩm quyền xác nhận điều kiện của người được nhận làm con nuôi, người nhận con nuôi; thẩm quyền, yêu cầu đối với việc giới thiệu trẻ em cho làm con nuôi trong nước; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; bổ sung căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi; bổ sung quy định về thu hồi, hủy bỏ giấy tờ về nuôi con nuôi trong những trường hợp cần thiết và các nội dung khác có liên quan nhằm bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Đối với chính sách 2 về phát triển hoạt động công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết nuôi con nuôi và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng: Huy động công chức, viên chức, người lao động làm công tác xã hội trong các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tham gia hỗ trợ giải quyết nuôi con nuôi.

UBND cấp tỉnh xác nhận công dân Việt Nam đủ điều kiện nhận trẻ nước ngoài làm con nuôi

Đối với chính sách 3 về tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo thuận lợi cho người dân, Chính phủ cơ bản thống nhất theo hướng: phân cấp thẩm quyền từ Bộ Tư pháp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở trong nước đủ điều kiện nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi; cho phép người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi trong nước không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên toàn quốc; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm khai thác dữ liệu có sẵn thay thế việc yêu cầu người dân phải nộp giấy tờ; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi.

Trình Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) trong tháng 6/2026

Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ; tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ tác động của các chính sách để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; hoàn thiện nội dung các chính sách, trên cơ sở đó chủ động tổ chức xây dựng dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) theo quy định, trình Chính phủ trong tháng 6 năm 2026.

Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).

Phê duyệt Chương trình "Phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD, Olympic giai đoạn 2026-2045"

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 816/QĐ-TTg ngày 07/5/2026 phê duyệt Chương trình "Phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự các kỳ ASIAD, Olympic giai đoạn 2026-2045" (Chương trình).

Mục tiêu của Chương trình nhằm xây dựng lực lượng vận động viên xuất sắc trong các môn thể thao trọng điểm, vừa có trình độ chuyên môn, thể lực tốt, vừa có bản lĩnh thi đấu, đủ năng lực cạnh tranh huy chương tại các kỳ ASIAD và Olympic; trước mắt phấn đấu cải thiện thành tích ngay trong giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị huấn luyện và các điều kiện bảo đảm (chế độ dinh dưỡng, các biện pháp hồi phục) nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và thể lực cho vận động viên.

Phấn đấu giai đoạn 2026-2030 thành tích thi đấu đạt trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD

Giai đoạn 2026 - 2030: Thành tích thi đấu đạt trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu giành 05 huy chương vàng tại ASIAD 2026 và 06 huy chương vàng tại ASIAD 2030 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Phấn đấu giành huy chương tại Olympic 2028 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Duy trì ổn định các môn thể thao trọng điểm được đầu tư, đào tạo trong giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời rà soát và bổ sung kịp thời khoảng 35-40 vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao nhằm phát hiện và phát triển các nhân tố có khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic.

Giai đoạn 2031 - 2035: Thành tích thi đấu đạt trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu giành 07 huy chương vàng tại ASIAD 2034 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Phấn đấu giành huy chương bạc tại Olympic 2032 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Hình thành hệ thống đồng bộ, thống nhất trong rà soát, phát hiện, tuyển chọn, đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển ổn định các môn thể thao trọng điểm đã được đầu tư trong cả giai đoạn 2026 - 2035 và tiếp tục bổ sung kịp thời khoảng 75-80 vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao khác nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic.

Giai đoạn 2036-2045 có khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic thuộc tốp đầu ở khu vực

Giai đoạn 2036-2045: Phấn đấu thành tích thi đấu đạt trong tốp 15 tại các kỳ ASIAD, tốp 50 tại các kỳ Olympic; trong đó phấn đấu có kỳ ASIAD giành 10 huy chương vàng, có kỳ Olympic giành nhiều hơn 01 huy chương vàng.

Hoàn thiện, vận hành hiệu quả hệ thống, quy trình, cơ chế có tính khoa học và thực tiễn phục vụ phát triển các môn thể thao trọng điểm, phấn đấu khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic thuộc tốp đầu ở khu vực; đồng thời duy trì hiệu quả cơ chế sàng lọc và bổ sung các vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao khác nhằm đưa khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic từng bước tiệm cận với mặt bằng châu lục ở một số môn, nội dung thi đấu.

Phấn đấu đăng cai tổ chức ASIAD năm 2038 tại Việt Nam.

Lựa chọn vận động viên có tiềm năng, thành tích nổi bật các môn thể thao trọng điểm

Để thực hiện các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như: tổ chức tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện vận động viên; ứng dụng khoa học công nghệ, y học thể thao; xây dựng, hoàn thiện một số cơ chế, chính sách phù hợp, có tính chất đặc thù; huy động, đa dạng hóa nguồn lực…

Về tổ chức tuyển chọn, đào tạo huấn luyện vận động viên, Quyết định yêu cầu:

Từ năm 2026, tổ chức rà soát, lựa chọn những vận động viên có tiềm năng, thành tích nổi bật các môn thể thao trọng điểm, bảo đảm tiêu chí về thể lực, tố chất chuyên môn, tâm lý thi đấu, khả năng tiến bộ vượt bậc trong 3 - 5 năm tới; thực hiện cơ chế sàng lọc liên tục, kiên quyết loại bỏ các trường hợp không đáp ứng yêu cầu; ưu tiên đào tạo chuyên sâu cho các nhóm nội dung, hạng cân, cự ly có khả năng giành huy chương.

Nghiên cứu, áp dụng phù hợp mô hình huấn luyện đặc thù, chuyên biệt trên thế giới, nhất là ở các nước có nền thể thao phát triển, đồng thời kết hợp huấn luyện trong nước và quốc tế, trong đó chú trọng tập huấn dài hạn ở các nước có thế mạnh từng môn thể thao.

Xây dựng đội ngũ chuyên gia hỗ trợ đa ngành (y sinh học, tâm lý thể thao, phân tích dữ liệu, dinh dưỡng thể thao) bổ sung vào hệ thống huấn luyện; tổ chức các khóa học quốc tế cho huấn luyện viên trong nước, hướng tới đạt chứng chỉ huấn luyện quốc tế; mời chuyên gia nước ngoài có thành tích huấn luyện, đào tạo tại ASIAD, Olympic trực tiếp huấn luyện và chuyển giao công nghệ huấn luyện cho huấn luyện viên Việt Nam.

Xây dựng cơ chế khuyến khích, thu hút huấn luyện viên, chuyên gia giỏi và vận động viên tài năng

Về rà soát, nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện một số cơ chế, chính sách phù hợp, có tính chất đặc thù, Quyết định yêu cầu:

Triển khai hiệu quả quy định của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu và các quy định pháp luật liên quan; đồng thời rà soát, nghiên cứu một số chính sách có tính chất đặc thù, phù hợp đối với vận động viên, huấn luyện viên các môn thể thao trọng điểm, trong đó chú trọng xây dựng cơ chế khuyến khích, thu hút huấn luyện viên, chuyên gia giỏi và vận động viên xuất sắc, tài năng; tạo điều kiện làm việc, tập luyện chuyên nghiệp, ổn định lâu dài.

Hoàn thiện cơ chế phối hợp, hỗ trợ giữa Bộ, ngành, địa phương, các liên đoàn, hiệp hội thể thao và các tổ chức xã hội liên quan trong việc phát hiện, đào tạo, đãi ngộ và bảo đảm quyền lợi chính đáng cho lực lượng huấn luyện viên, vận động viên xuất sắc, tài năng các môn thể thao trọng điểm.

Quyết định quy định các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về chuyên môn, kỹ thuật và cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện, thi đấu đối với từng môn thể thao trọng điểm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, tổ chức liên quan, các địa phương chủ động xây dựng, hoàn thiện, phê duyệt và triển khai, bảo đảm bám sát các tiêu chuẩn, điều kiện quốc tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao và cụ thể hóa khả năng cạnh tranh huy chương tại các kỳ ASIAD và Olympic; trong đó chú trọng lựa chọn những nội dung thi đấu phù hợp để bảo đảm khả năng cao nhất trong cạnh tranh thành tích.

Ban hành Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 804/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 ban hành Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu.

Theo Quyết định, Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu bao gồm:

1. Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu (Phụ lục I) gồm 15 bộ dữ liệu về: ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số; tri thức quốc gia; văn bản pháp luật và văn bản hành chính (không bao gồm văn bản mật); khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; dịch vụ công và thủ tục hành chính; y tế và chăm sóc sức khỏe; giáo dục và đào tạo; nông nghiệp; giao thông và đô thị; tài nguyên và môi trường; kinh tế và thị trường; văn hóa, di sản và du lịch; bản đồ và không gian địa lý quốc gia; viễn thông và hạ tầng số; đa ngôn ngữ quốc tế về Việt Nam.

2. Danh mục dữ liệu ưu tiên triển khai phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo (Phụ lục II) được xây dựng trên cơ sở các bộ dữ liệu quy định tại Phụ lục I, gồm 5 nhóm danh mục dữ liệu chính sau:

- Dữ liệu phục vụ phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt gồm: Dữ liệu ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông; hội thoại và tương tác tiếng Việt; tiếng nói tiếng Việt; ngôn ngữ các dân tộc thiểu số; hướng dẫn và căn chỉnh mô hình; tổng hợp nhân tạo; báo chí và truyền thông; tri thức và thuật ngữ chuyên ngành; pháp luật và văn bản quản lý hành chính; khoa học, học thuật, quy chuẩn kỹ thuật; mã nguồn và lập trình; toán học và suy luận khoa học; văn hóa và lịch sử Việt Nam; dữ liệu từ nguồn mở trên Internet và môi trường số; song ngữ và đa ngôn ngữ.

- Dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo thị giác máy tính gồm: Dữ liệu đa phương tiện phục vụ hiểu ngữ cảnh hình ảnh và video; dữ liệu hình ảnh trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, giao thông, đô thị và hạ tầng, vệ tinh và viễn thám.

- Dữ liệu phục vụ kiểm thử và đánh giá hệ thống trí tuệ nhân tạo gồm: Dữ liệu đánh giá năng lực hiểu tiếng Việt; năng lực hội thoại tiếng Việt, hiểu biết pháp luật Việt Nam; năng lực lập trình và kỹ thuật; năng lực suy luận và tri thức; hiểu biết văn hóa và xã hội.

- Dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu gồm: Dữ liệu thủ tục hành chính, y tế và chăm sóc và sức khỏe; giáo dục; môi trường và khí hậu; năng lượng và tài nguyên; tài chính và kinh tế; bản đồ số và địa lý quốc gia; hạ tầng viễn thông và mạng số.

- Dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo phục vụ đánh giá an toàn và tin cậy gồm: Dữ liệu phát hiện tin giả và thông tin sai lệch; nhận diện sản phẩm đa phương tiện do trí tuệ nhân tạo tạo ra; kịch bản tấn công và kiểm thử đạo đức trí tuệ nhân tạo; phát hiện mã độc và mối đe dọa an ninh mạng.

Các bộ dữ liệu quy định tại Phụ lục I được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2026-2030; trong đó, ưu tiên tập trung cho các danh mục dữ liệu quy định tại Phụ lục II của Quyết định này.

Việc tổ chức thu nhập, tạo lập, chia sẻ và xử lý, sử dụng, khai thác các bộ dữ liệu thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này phải tuân thủ các quy định của pháp luật về dữ liệu , bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước, sở hữu trí tuệ và các pháp luật khác có liên quan.

Thành lập phân hiệu, sáp nhập một số trường cao đẳng vào đại học

Ngày 06/5/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sáp nhập Trường Cao đẳng Luật miền Nam vào Đại học Cần Thơ; sáp nhập Trường Cao đẳng Luật miền Bắc vào Trường Đại học Khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên và thành lập Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing tại tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở Trường Đại học Tài chính – Kế toán.

Cụ thể, tại Quyết định số 805/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định sáp nhập Trường Cao đẳng Luật miền Nam trực thuộc Bộ Tư pháp vào Đại học Cần Thơ trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đồng thời, tại Quyết định số 806/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định sáp nhập Trường Cao đẳng Luật miền Bắc trực thuộc Bộ Tư pháp vào Trường Đại học Khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng người học, nhân sự, tài chính, tài sản của Trường Cao đẳng Luật miền Nam (trực thuộc Bộ Tư pháp) vào Đại học Cần Thơ (trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) và của Trường Cao đẳng Luật miền Bắc (trực thuộc Bộ Tư pháp) vào Trường Đại học Khoa học (trực thuộc Đại học Thái Nguyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo) theo quy định; bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí tài chính, tài sản trong quá trình sáp nhập.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về việc Đại học Cần Thơ tiếp tục đào tạo, cấp bằng cho người học đang học tại Trường Cao đẳng Luật miền Nam; Trường Đại học Khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên tiếp tục đào tạo, cấp bằng cho người học đang học tại Trường Cao Đẳng Luật miền Bắc theo quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học.

Ngoài ra, tại Quyết định số 807/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing tại tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở Trường Đại học Tài chính – Kế toán.

Quyết định số 807/QĐ-TTg giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chỉ đạo Trường Đại học Tài chính – Marketing, Trường Đại học Tài chính – Kế toán thực hiện bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng nhân sự, tài chính, tài sản, người học của Trường Đại học Tài chính – Kế hoạch theo quy định; quá trình bàn giao, tiếp nhận phải bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên, các bên liên quan, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí tài chính, tài sản.

Kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về IUU

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 815/QĐ-TTg ngày 7/5/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và phát triển bền vững ngành thủy sản.

Theo kiện toàn, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và phát triển bền vững ngành thủy sản (Ban Chỉ đạo Quốc gia về IUU) là Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng (Phó Trưởng ban Thường trực); Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng.

Ủy viên gồm lãnh đạo các bộ, ban, ngành, các địa phương: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Ban Chỉ đạo phòng thủ dân sự Quốc gia và Chủ tịch Ủy ban nhân dân 22 tỉnh, thành phố ven biển, có tàu cá (Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, thành phố Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang, Tây Ninh).

Bộ Nông nghiệp và Môi trường là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, sử dụng bộ máy hiện có để tổ chức thực hiện nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo giao./.