In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/8/2026 (1).

07/08/2026 20:20

Công điện về việc triển khai công tác cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Công điện số 52/CĐ-TTg ngày 07/8/2026 về triển khai công tác cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (1)- Ảnh 1.

Khẩn trương xây dựng và phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý, hoàn thành trước ngày 31/8/2026.

Công điện gửi đến Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Công điện nêu: Triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó đặt ra nhiệm vụ tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.

Triển khai Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng "2 con số", trong đó đề ra nhiệm vụ tại Điểm 32 Mục I Phụ lục 3 "Hoàn thiện phương án đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước, bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí".

Căn cứ Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15;

Căn cứ Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/02/2026 của Chính phủ về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

Ngày 05/8/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026.

Khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao các doanh nghiệp nhằm phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế

Để khẩn trương đẩy nhanh công tác sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng "2 con số" của nền kinh tế theo Kết luận số 18-KL/TW, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Chủ tịch, Tổng giám đốc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, chỉ đạo liên quan đến việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC); có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC tại các doanh nghiệp; khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao các doanh nghiệp theo quy định pháp luật nhằm phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế... đã được giao tại Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các quy định pháp luật có liên quan, đồng thời tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau bảo đảm theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 4 Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg và pháp luật liên quan:

1. Khẩn trương xây dựng và phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý, hoàn thành trước ngày 31/8/2026.

2. Đề xuất Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 đối với doanh nghiệp quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định số 57/2026/NĐ-CP (trừ Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội) và 03 Ngân hàng Thương mại cổ phần: Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công Thương Việt Nam, Ngoại thương Việt Nam, gửi Bộ Tài chính trước ngày 12/8/2026 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

3. Chỉ đạo Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc phạm vi quản lý thực hiện xây dựng, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn tại doanh nghiệp có vốn góp của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ giai đoạn 2026-2030, hoàn thành trước ngày 31/8/2026.

Chỉ đạo Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý tham gia ý kiến, biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp Hội đồng quản trị, cuộc họp Hội đồng thành viên về Kế hoạch cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn giai đoạn 2026-2030, hoàn thành trước ngày 31/8/2026.

Giám sát các doanh nghiệp hoàn thành việc xác định lại vốn điều lệ trước khi thực hiện đầu tư bổ sung vốn điều lệ

4. Bộ Tài chính:

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/8/2026 để Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 trên cơ sở đề xuất của cơ quan đại diện chủ sở hữu nêu tại điểm 2 Công điện này và ý kiến tham gia của các cơ quan theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg.

- Tổng hợp báo cáo về việc ban hành Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 trên phạm vi toàn quốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2026.

- Theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc và giám sát các Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn tại doanh nghiệp theo quy định.

- Giám sát, đôn đốc việc hoàn thành phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kế hoạch cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác theo thời hạn đề ra tại Công điện.

5. Bộ Tài chính và các cơ quan đại diện chủ sở hữu đôn đốc, giám sát các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc phạm vi quản lý hoàn thành việc xác định lại vốn điều lệ trước khi thực hiện đầu tư bổ sung vốn điều lệ theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

6. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm:

- Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, đôn đốc, giám sát quá trình triển khai thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kịp thời xử lý các khó khăn vướng mắc phát sinh theo đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan chủ sở hữu để đảm bảo quá trình cơ cấu lại vốn nhà nước thực hiện hiệu quả, công khai, minh bạch, đúng lộ trình đề ra.

- Phổ biến Công điện này đến các doanh nghiệp được giao quản lý bảo đảm thực hiện kịp thời, nhất quán.

7. Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước khẩn trương, nghiêm túc thực hiện việc phê duyệt, triển khai Kế hoạch cơ cấu lại vốn tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 theo thời hạn nêu tại Công điện này và quy định của pháp luật có liên quan.

Đây là nhiệm vụ quan trọng, cần khẩn trương triển khai thực hiện có hiệu quả và hoàn thành đúng thời hạn. Thủ tướng Chính phủ đề nghị các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch, Tổng giám đốc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc hoàn thành các nhiệm vụ nêu trên, bảo đảm việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 được thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả và không để thất thoát, lãng phí.

Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới mô hình phát triển đất nước

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (1)- Ảnh 2.

Chính phủ ban hành Chương trình hành động về đổi mới mô hình phát triển đất nước.

Mục đích của Chương trình nhằm bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; tăng cường giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, phát huy tinh thần nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết.

Đồng thời, thể hiện rõ những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để cụ thể hóa quan điểm, đường lối, định hướng và nội dung của Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (sau đây gọi là Nghị quyết số 19-NQ/TW). Phân công rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, tiến độ và các điều kiện cần thiết để thực hiện, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên; kịp thời phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng các mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả cao; chấn chỉnh những nơi thực hiện Nghị quyết chưa tốt.

Bên cạnh đó, Chương trình hành động của Chính phủ là căn cứ để các bộ, ngành, cơ quan trực thuộc Chính phủ ở trung ương, chính quyền địa phương cấp tỉnh và các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước xây dựng chương trình hành động kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phải được tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, nỗ lực phấn đấu cao nhất để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ về đổi mới mô hình phát triển đất nước; là căn cứ quan trọng để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.

40 chỉ tiêu cụ thể trên các lĩnh vực

Để triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045, Chính phủ xác định 40 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực: Thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị (4 chỉ tiêu); kinh tế (14 chỉ tiêu); xã hội (8 chỉ tiêu); văn hóa, con người (4 chỉ tiêu); môi trường sinh thái (5 chỉ tiêu); quốc phòng, an ninh (4 chỉ tiêu); đối ngoại và hội nhập quốc tế (1 chỉ tiêu).

Các bộ, cơ quan, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo cụ thể hoá các chỉ tiêu theo ngành, lĩnh vực cụ thể và thể hiện trong chương trình hành động kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động này.

Tổng hợp các chỉ tiêu chủ yếu về đổi mới mô hình phát triển đất nước đến năm 2030, 2035 và 2045

Đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực; tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế

Các bộ, cơ quan, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạo quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm bảo đảm mục tiêu sau:

Đến năm 2030: Hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Đến năm 2035: Hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực, cụ thể:

Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập. Lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực làm chủ công nghệ, vị trí quan trọng trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các bon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.

Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; chuyển từ quản lý xã hội theo phương thức hành chính truyền thống và xử lý hậu quả phát sinh sang kết hợp hài hoà, hiệu quả với quản trị phát triển và kiến tạo xã hội chủ động, dựa trên dữ liệu, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa. Xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; an ninh con người được bảo đảm toàn diện; hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững, vận hành đồng bộ, hiệu quả; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, già hoá dân số và biến đổi cơ cấu việc làm.

Mô hình phát triển văn hoá, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; văn hoá là nền tảng tinh thần, nguồn lực và động lực nội sinh, năng lực sáng tạo, sức mạnh mềm cho phát triển nhanh, bền vững. Con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, có bản lĩnh văn hoá, năng lực số, năng lực sáng tạo, ý thức thượng tôn pháp luật, kỷ luật và trách nhiệm; có lòng nhân ái, tinh thần dân tộc và khát vọng cống hiến, ý chí tự lực, tự cường; có khả năng thích ứng và hội nhập toàn cầu, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ, kiến tạo cuộc sống hạnh phúc và tương lai tốt đẹp. Gìn giữ, phát huy và lan toả mạnh mẽ văn hoá Việt Nam trong đời sống xã hội và trên môi trường số, trở thành lợi thế trong hoạt động kinh tế, xã hội và đối ngoại.

Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; cải thiện chất lượng môi trường sống, kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; kinh tế - xã hội phát triển trong khả năng chịu tải của môi trường; các hệ sinh thái quan trọng được bảo vệ, phục hồi, phát triển; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng chủ động, tăng cường dự báo và cảnh báo sớm, phục hồi nhanh; quản trị tài nguyên, môi trường sinh thái dựa trên nền tảng số, dữ liệu liên thông, giám sát theo thời gian thực.

Mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trên cả không gian truyền thống và các không gian, lĩnh vực mới; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và môi trường hoà bình, ổn định, an toàn cho phát triển. Nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân được củng cố vững chắc, hiện đại, liên hoàn từ cơ sở. Nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, phòng thủ chủ động và công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại có sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước.

Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển; chủ động mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ tiên tiến, nâng cao vị thế, uy tín, sức mạnh tổng hợp và sức mạnh mềm quốc gia. Tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu và có vai trò tích cực hơn trong định hình các chuẩn mực, cơ chế, khuôn khổ hợp tác quốc tế mới.

Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện đồng bộ, hệ thống chính trị tinh gọn, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Quản trị quốc gia chuyển từ quản lý hành chính, nặng về tiền kiểm và kiểm soát sang quản trị phát triển dựa trên pháp quyền, dữ liệu, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kỷ luật thực thi và kiểm soát quyền lực; nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, điều phối phát triển, quản trị rủi ro, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và giải phóng hiệu quả các nguồn lực xã hội.

Mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Đến năm 2045: Hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập và các mô hình thành phần trên các lĩnh vực được vận hành đồng bộ, hài hoà, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; làm chủ các công nghệ chiến lược quan trọng; xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; văn hoá và con người trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng phát triển quốc gia; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế chủ động, hiệu quả, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia, đóng góp tích cực vào hoà bình, phát triển bền vững, văn minh chung của nhân loại.

Định hướng tầm nhìn đến năm 2130: Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hoá giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan bố trí nguồn lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Nghị quyết (thực hiện thường xuyên).

Danh mục các nhiệm vụ, giải pháp quan trọng trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026.

Cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 37/2026/NQ-CP về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (1)- Ảnh 3.

Cơ cấu, số lượng và chế độ đối với hiệu trưởng, hiệu phó khi sáp nhập trường học

Nghị quyết này áp dụng đối với:

1- Các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện sắp xếp.

2- Hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục trong các cơ sở giáo dục nêu trên.

3- Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc tổ chức thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập.

4- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết này.

Cơ cấu, số lượng, chế độ bảo lưu phụ cấp chức vụ đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc

Về cơ cấu, số lượng, chế độ bảo lưu phụ cấp chức vụ đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, Nghị quyết quy định:

1- Hiệu trưởng hoặc giám đốc: Mỗi cơ sở giáo dục có 01 hiệu trưởng hoặc 01 giám đốc.

2- Phó hiệu trưởng hoặc phó giám đốc:

a) Đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên: Trường chính được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc; mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc;

b) Đối với trường trung cấp, trường trung học nghề: Số lượng phó hiệu trưởng thực hiện theo quy định của pháp luật về số lượng cấp phó;

c) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên: Trụ sở chính được bố trí 01 phó giám đốc, mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó giám đốc.

3. Sau khi sắp xếp theo quy định tại 1 và 2 mục này, số hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại của các cơ sở giáo dục trước khi sắp xếp được bố trí như sau:

a) Bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo hoặc vị trí việc làm khác phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo của hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc sau sắp xếp;

b) Số lượng hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại sau khi sắp xếp đủ theo quy định tại a nêu trên nếu có nguyện vọng nghỉ việc thì thực hiện giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế.

4. Trường hợp hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc thôi giữ chức vụ hoặc được bổ nhiệm chức vụ mới có mức phụ cấp chức vụ thấp hơn do thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2025).

Cơ cấu, số lượng, chế độ chính sách đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục

Về cơ cấu, số lượng và chế độ chính sách đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục, Nghị quyết quy định:

1- Số lượng nhân sự hỗ trợ giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên:

a) Các vị trí kế toán, văn thư, thủ quỹ được bố trí dùng chung cho cơ sở giáo dục (bao gồm trường chính, phân hiệu, điểm trường), mỗi vị trí được bố trí 01 người.

Đối với vị trí kế toán, trường hợp thuộc loại hình trường có học sinh nội trú, bán trú có quy mô từ 40 lớp trở lên thì được bố trí tối đa 02 người.

b) Các vị trí việc làm thiết bị, thí nghiệm, thư viện, giáo vụ, tư vấn học sinh, hỗ trợ giáo dục người khuyết tật, công nghệ thông tin (hoặc quản trị công sở), y tế trường học được bố trí riêng cho trường chính và mỗi phân hiệu. Mỗi vị trí việc làm quy định tại điểm này được bố trí 01 người.

c) Cơ quan quản lý trực tiếp cơ sở giáo dục quyết định bố trí số lượng nhân sự hỗ trợ giáo dục theo quy định tại a và b; trường hợp cần thiết, căn cứ quy mô, điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục, quyết định việc bố trí một người đảm nhận một hoặc nhiều vị trí việc làm phù hợp với năng lực, chuyên môn, yêu cầu nhiệm vụ và không vượt quá số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao.

2. Số lượng nhân sự hỗ trợ giáo dục đối với trường dạy nghề (bao gồm trường trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trường trung học nghề) thực hiện theo quy chế tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục và quy định của pháp luật có liên quan.

3. Sau khi sắp xếp theo quy định trên, số nhân sự hỗ trợ giáo dục còn lại của các cơ sở giáo dục trước khi sắp xếp được bố trí như sau:

a) Bố trí vào vị trí việc làm nhân sự hỗ trợ giáo dục còn thiếu số lượng người làm việc theo định mức quy định, trừ trường hợp quy định tại b và c dưới đây.

Trường hợp chưa đáp ứng tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng của vị trí việc làm mới thì giữ mã số, chức danh và hệ số lương đang được hưởng. Khi đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của vị trí việc làm mới sau sắp xếp thì bổ nhiệm chức danh và xếp lương theo vị trí việc làm đó hoặc bố trí bậc nghề nghiệp theo quy định.

Trong thời hạn 03 năm (36 tháng) kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, nhân sự hỗ trợ giáo dục phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm mới; nếu không đáp ứng thì thực hiện chế độ thôi việc hoặc nghỉ hưu, tinh giản biên chế theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp cần thiết do cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định.

b) Không bố trí vào vị trí y tế trường học nếu không đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của vị trí việc làm.

c) Không bố trí vào vị trí việc làm kế toán nếu không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm kế toán hoặc thuộc các trường hợp không được làm kế toán theo quy định.

d) Bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo nếu đạt trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo và đạt yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng ngay vị trí việc làm nhà giáo.

đ) Số lượng nhân sự hỗ trợ giáo dục còn lại sau khi sắp xếp đủ theo quy định tại a, b, c và d mục này thì thực hiện giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên khi sắp xếp cơ sở giáo dục

Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh thuộc phạm vi quản lý theo phân công của Chính phủ; báo cáo Chính phủ những nội dung vượt thẩm quyền. Đồng thời, chủ trì hướng dẫn, chỉ đạo địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên khi sắp xếp cơ sở giáo dục.

Bộ Nội vụ hướng dẫn giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với các đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4, điểm đ khoản 3 Điều 5 và chính sách bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết này. Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy, biên chế.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy định về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã theo quy định tại Nghị quyết này; chỉ đạo, hướng dẫn việc cử nhân sự hỗ trợ giáo dục tham gia đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm mới; xây dựng và trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định dự toán chi ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đối với nhân sự hỗ trợ giáo dục.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao biên chế viên chức theo thẩm quyền; chỉ đạo việc cơ cấu lại, bố trí, điều động, thuyên chuyển viên chức giáo dục và việc sắp xếp, bố trí hoặc thực hiện kiêm nhiệm các vị trí việc làm nhân sự hỗ trợ giáo dục để khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục trên địa bàn phù hợp với quy mô, điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục, bảo đảm phù hợp với định mức số lượng người làm việc theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; giải quyết chế độ chính sách cho đội ngũ hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý chịu tác động của việc sắp xếp cơ sở giáo dục.

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các quy định về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập cấp xã theo quy định tại Nghị quyết này và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giải quyết chế độ chính sách cho đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, nhân sự hỗ trợ giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý chịu tác động của việc sắp xếp cơ sở giáo dục.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 05/8/2026 đến hết ngày 30/6/2028.

Triển khai cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu phải đảm bảo thực chất, hiệu quả

Tại Công văn số 7795/VPCP-CĐS, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố triển khai cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu phải đảm bảo thực chất, hiệu quả.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 7/8/2026 (1)- Ảnh 4.

Cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu phải đảm bảo thực chất, hiệu quả

Công văn nêu: Trên cơ sở kết quả thực hiện Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu và một số bất cập, hạn chế thời gian qua theo phản ánh của các bộ, cơ quan, địa phương, để bảo đảm việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu thực chất, hiệu quả, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà có chỉ đạo như sau:

Tổ chức các đoàn kiểm tra tại các bộ ngành, địa phương

Về thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố rà soát việc tái cấu trúc quy trình các TTHC cắt giảm, thay thế thành phần hồ sơ dựa trên dữ liệu đã được công bố, bảo đảm cắt giảm dựa trên dữ liệu thực chất; trong đó phải đáp ứng các yêu cầu theo hướng dẫn tại Thông tư 01/2023/TT-VPCP ngày 05 tháng 4 năm 2023 của Văn phòng Chính phủ và Công văn số 3695/BTP-KSTT ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Bộ Tư pháp; hoàn thành trước ngày 15 tháng 8 năm 2026.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chủ trì xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi quy định TTHC theo yêu cầu cắt giảm dựa trên dữ liệu, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027; hoàn thành và đưa vào sử dụng các cơ sở dữ liệu, bảo đảm kết nối, chia sẻ với Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống giải quyết TTHC bộ, ngành, địa phương để người dân, doanh nghiệp, cán bộ, công chức có thể thực hiện, giải quyết hồ sơ dịch vụ công trực tuyến dựa trên dữ liệu.

Bộ Tư pháp tăng cường hướng dẫn, tập huấn cho các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện tái cấu trúc TTHC dựa trên dữ liệu đáp ứng yêu cầu; chủ trì, phối hợp với Hội đồng tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ và bộ, cơ quan liên quan tổ chức các đoàn kiểm tra tại các bộ, cơ quan, địa phương, để đánh giá tổng thể việc cắt giảm TTHC dựa trên dữ liệu, giải quyết TTHC được cắt giảm dựa trên dữ liệu, bảo đảm hiệu quả, thực chất; đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải pháp tổng thể, hoàn thành trước ngày 30 tháng 9 năm 2026 và đôn đốc, theo dõi việc sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật để cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu theo Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP.

Thực hiện nghiêm túc tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC

Về cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu với các TTHC ngoài Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan mình và danh mục TTHC có thể cắt giảm dựa trên dữ liệu theo Văn bản số 3666/BCA-C12 ngày 16 tháng 7 năm 2026 của Bộ Công an; có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Tư pháp, Bộ Công an về danh mục này, hoàn thành trước ngày 30 tháng 8 năm 2026; nghiêm túc thực hiện tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC dựa trên dữ liệu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan ngang bộ rà soát các TTHC trong danh mục kèm theo Văn bản số 3666/BCA-C12 ngày 16/7/2026, thống nhất các nội dung sau: (i) Danh mục các TTHC, (ii) Thành phần hồ sơ cụ thể của TTHC có thể cắt giảm, đơn giản hóa dựa trên dữ liệu, (iii) Cơ sở dữ liệu có thông tin được khai thác, sử dụng thay thế thành phần hồ sơ TTHC; (iv) Các văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, (v) Trách nhiệm chủ trì, phối hợp, (vi) Thời hạn hoàn thành; trình Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hoàn thành trước ngày 30 tháng 9 năm 2026./.