In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026.

08/09/2026 17:28

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại TP Đồng Nai

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Công điện số 63/CĐ-TTg ngày 8/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ gửi Bộ trưởng Bộ Công an; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng trên địa bàn thành phố Đồng Nai.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 1.

Hiện trường vụ tai nạn - Ảnh: Báo Đồng Nai

Nội dung công điện nêu rõ:

Theo thông tin báo cáo của Cục Cảnh sát giao thông Bộ Công an, vào lúc 08 giờ 20 phút ngày 08 tháng 9 năm 2026 đã xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại Km1962+970 đường Võ Nguyên Giáp, phường Phước Tân, thành phố Đồng Nai do xe ô tô mang biển kiểm soát 29H-890.95 va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 60F2-415.86, hậu quả làm chết 03 người và bị thương 01 người. Đây là vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng thứ 2 trên địa bàn thành phố Đồng Nai chỉ trong vòng hơn 01 tháng. Ngay khi nhận được thông tin vụ tai nạn, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo gửi lời thăm hỏi đối với người bị thương và chia buồn sâu sắc tới thân nhân, gia đình nạn nhân tử vong; chỉ đạo Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai và lực lượng Công an, y tế tới hiện trường để khắc phục hậu quả vụ tai nạn; đồng thời yêu cầu:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai

- Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng bố trí ngay mọi điều kiện về y tế, thuốc men để cứu chữa người bị nạn; tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ động viên người bị nạn và gia đình nạn nhân tử vong trong vụ tai nạn;

- Nghiêm túc kiểm điểm tình hình thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 51/CĐ-TTg ngày 21 tháng 7 năm 2026 liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố làm chết 07 người và bị thương nhiều người; Công điện số 55/CĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2026 về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9 và tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường; trên cơ sở đó kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan nếu chậm triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, dẫn đến xảy ra vụ tai nạn nêu trên.

2. Bộ Công an

- Chỉ đạo Công an thành phố Đồng Nai và Công an các đơn vị khẩn trương điều tra nguyên nhân xảy ra tai nạn để xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với lái xe, chủ xe, doanh nghiệp kinh doanh vận tải (nếu có) trong vụ tai nạn nêu trên;

- Tiếp tục chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về chở quá số người quy định, nhất là đối với phương tiện xe mô tô; kiên quyết không để tình trạng xe mô tô chở 3, chở 4 người lưu thông trên đường, gây mất an toàn cho người tham gia giao thông.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và chính quyền cấp xã quyết liệt triển khai các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn, có biện pháp xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm; chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn, kiên quyết không để xảy ra các trường hợp tương tự như vụ tai nạn nêu trên.

Quy định mới về trách nhiệm của chủ đầu tư và quy trình kiểm tra phòng cháy, chữa cháy

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 2.

Quy định mới về trách nhiệm của chủ đầu tư và quy trình kiểm tra phòng cháy, chữa cháy

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định sau:

1- Nghị định số 169/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu;

2- Nghị định số 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ;

3- Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ;

4- Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.

Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ phương tiện giao thông trong nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy

Đối với Nghị định số 105/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Nghị định số 347/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung những nội dung đáng chú ý sau:

Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 12 về trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình và chủ phương tiện giao thông trong tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.

Theo đó, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án, công trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu; khai báo trên hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy trước khi đưa công trình vào hoạt động.

Chủ phương tiện giao thông tổ chức nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với phương tiện giao thông và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu; thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý chuyên ngành về việc đưa phương tiện giao thông vào hoạt động.

Sửa đổi quy định về thẩm quyền kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan công an và UBND cấp tỉnh

Đồng thời, Nghị định số 347/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm a, điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP về nội dung, thẩm quyền kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy. Cụ thể:

"a) Cơ quan Công an theo phân cấp tổ chức kiểm tra:

Kiểm tra định kỳ 01 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 1 quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này, công trình xây dựng trong quá trình thi công thuộc diện phải thẩm duyệt thiết kế, thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, phương tiện giao thông quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này; kiểm tra định kỳ 02 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 2 quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, có đơn khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật liên quan đến phòng cháy, chữa cháy theo quy định hoặc theo yêu cầu phục vụ bảo đảm an ninh, trật tự của cơ quan có thẩm quyền đối với cơ sở quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này và phương tiện giao thông quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này.

Nội dung kiểm tra định kỳ, đột xuất: đối với cơ sở theo quy định tại các điểm a, c, d và điểm đ khoản 1 Điều này; đối với công trình xây dựng trong quá trình thi công thuộc diện phải thẩm duyệt thiết kế, thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy theo quy định tại các điểm c, d, l và điểm m khoản 1 Điều này; đối với phương tiện giao thông quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này theo quy định tại các điểm b, c, d, l và điểm m khoản 1 Điều này;

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công, phân cấp cơ quan chuyên môn về xây dựng tổ chức kiểm tra:

Kiểm tra định kỳ 01 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 1 quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này, 02 năm một lần đối với cơ sở thuộc nhóm 2 quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, có đơn khiếu nại, tố cáo về vi phạm pháp luật liên quan đến phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định hoặc khi có yêu cầu phối hợp để phục vụ bảo đảm an ninh, trật tự của cơ quan có thẩm quyền đối với cơ sở thuộc Phụ lục II kèm theo Nghị định này.

Nội dung kiểm tra định kỳ, đột xuất theo quy định tại điểm g và điểm h khoản 1 Điều này;".

Sửa đổi trình tự, thủ tục kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy

Đáng chú ý, Nghị định số 347/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 14 của Nghị định số 105/2025/NĐ-CP về trình tự, thủ tục kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy như sau:

"3. Cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã theo phân cấp tổ chức kiểm tra định kỳ đối với cơ sở quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định này, công trình xây dựng thuộc diện phải thẩm duyệt thiết kế hoặc thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công, phương tiện giao thông quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này thuộc phạm vi quản lý theo trình tự, thủ tục như sau:

a) Trước ngày 15/12 hằng năm, cơ quan Công an, cơ quan chuyên môn về xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã theo phân cấp xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ của năm kế tiếp đối với cơ sở, công trình, phương tiện giao thông thuộc phạm vi quản lý và được điều chỉnh khi cần thiết;

b) Thành lập Đoàn kiểm tra hoặc phân công cán bộ thực hiện kiểm tra và gửi văn bản thông báo về thời gian, nội dung và thành phần tham gia kiểm tra cho đối tượng được kiểm tra trước 03 ngày làm việc;

c) Trưởng đoàn hoặc cán bộ được phân công giới thiệu thành phần, nội dung, phương pháp và phân công thành viên trong đoàn thực hiện kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy theo thẩm quyền;

d) Kết thúc kiểm tra phải lập biên bản theo Mẫu số PC03 kèm theo Nghị định này; trường hợp đối tượng kiểm tra không ký biên bản thì ghi rõ lý do vào biên bản kiểm tra.".

Nghị định số 347/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2026.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 3.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển du lịch

Du lịch là một động lực tăng trưởng

Mục tiêu của Chương trình là tổ chức thể chế hóa và triển khai đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 26-NQ/TW).

Xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm và tiến độ thực hiện; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao; phát huy vai trò của du lịch là một động lực tăng trưởng, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển văn hóa, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 gồm: Thu hút khách du lịch quốc tế đạt 45 - 50 triệu lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD; đóng góp trực tiếp vào GDP đạt 10 - 12%; vị thế về quy mô và tốc độ tăng trưởng du lịch trong khu vực Đông Nam Á đạt xếp hạng từ 1 đến 3...

8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Nhằm đạt được mục tiêu Nghị quyết số 26-NQ/TW đề ra, Chính phủ yêu cầu trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 1- Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo phát triển du lịch; 2- Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược, phát huy và khơi thông nguồn lực phát triển du lịch; 3- Phát triển hạ tầng, hình thành các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh cao; 4- Phát triển thị trường, sản phẩm du lịch giá trị cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch; 5- Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam; 6- Phát triển nguồn nhân lực, doanh nghiệp và cộng đồng du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển mới; 7- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển du lịch thông minh; 8- Đổi mới phương thức quản trị du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến du lịch xanh, thông minh, an toàn, bền vững.

Phát huy tinh thần "mỗi người dân là một đại sứ du lịch"

Để đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo phát triển du lịch, Chính phủ yêu cầu các Bộ ngành, địa phương xây dựng, triển khai kế hoạch tuyên truyền; cần xác định rõ du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển du lịch từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên đơn thuần sang chú trọng mô hình phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao; thực hiện quản trị du lịch theo hướng quản trị hệ sinh thái kinh tế dịch vụ tổng hợp, đồng bộ trong chuỗi giá trị. Coi nhiệm vụ giữ ổn định chính trị, đối ngoại và an ninh trật tự là nội dung quan trọng góp phần tạo môi trường du lịch an toàn, giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Xây dựng và triển khai phong trào toàn dân tham gia xây dựng môi trường du lịch văn minh, an toàn, thân thiện, chuyên nghiệp; nâng cao ý thức, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư trong bảo vệ tài nguyên, môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa, ứng xử văn minh với khách du lịch; phát huy tinh thần "mỗi người dân là một đại sứ du lịch"...

Phát triển nhóm sản phẩm du lịch văn hóa gắn với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa

Để phát triển thị trường, sản phẩm du lịch giá trị cao, nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch, Chính phủ yêu cầu ưu tiên các thị trường có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, đi du lịch quanh năm; tập trung phát triển nhóm sản phẩm du lịch văn hóa gắn với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa; hình thành sản phẩm biểu tượng quốc gia, tổ hợp dịch vụ quy mô lớn, chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có sức cạnh tranh quốc tế; phát triển sản phẩm nghỉ dưỡng biển đảo, sản phẩm du lịch đường thủy ven sông, ven biển; phát triển sản phẩm du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Phú Quốc.

Xây dựng sản phẩm du lịch gắn với văn hóa ẩm thực đặc sắc, đa dạng vùng miền. Hình thành hệ thống nhà hàng Việt Nam đạt chuẩn trong nước và quốc tế, nâng tầm và khẳng định thương hiệu ẩm thực Việt Nam trên bản đồ ẩm thực thế giới. Hình thành các cửa hàng mua sắm hàng hiệu có ưu đãi về giá (outlet), trung tâm thương mại, cửa hàng miễn thuế, chợ đêm.

Hỗ trợ phát triển các làng du lịch tiêu biểu trở thành điểm đến hấp dẫn, gắn với bảo tồn văn hóa, phát huy giá trị cộng đồng, sinh thái nông nghiệp, nông thôn, làng nghề, chợ phiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và trải nghiệm văn hóa bản địa thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia...

Nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam

Để tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, nâng tầm thương hiệu du lịch Việt Nam, các bộ ngành, địa phương triển khai xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia giai đoạn 2026-2035; gắn xúc tiến, quảng bá du lịch với ngoại giao văn hóa, quảng bá ẩm thực, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thể thao, lễ hội và các sự kiện quốc tế lớn; tăng cường hiện diện của du lịch Việt Nam trên các nền tảng số toàn cầu, nền tảng số trong nước, các kênh truyền thông mới và hệ sinh thái truyền thông đa phương tiện.

Lồng ghép quảng bá du lịch Việt Nam trong các hoạt động xúc tiến thương mại quốc gia, hội chợ, triển lãm, tuần hàng Việt Nam, sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam, sản phẩm OCOP, hoạt động kết nối giao thương và hoạt động của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài.

Xây dựng và triển khai Đề án nâng tầm thương hiệu du lịch quốc gia đến năm 2035 với thông điệp đồng bộ, định vị Việt Nam là điểm đến chất lượng cao, an toàn, hấp dẫn hàng đầu châu Á về di sản, ẩm thực, nghỉ dưỡng biển, văn hóa và phong cách sống Việt Nam; xây dựng chiến lược hợp tác của ngành du lịch Việt Nam với các đối tác, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực; xây dựng Chương trình và mạng lưới Đại sứ du lịch số tại các thị trường mục tiêu trọng điểm...

Đổi mới phương thức quản trị du lịch

Để đổi mới phương thức quản trị du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến du lịch xanh, thông minh, an toàn, bền vững, một trong những nhiệm vụ mà Chương trình đưa ra là quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương về du lịch theo hướng tập trung quản trị, kiến tạo và phát triển, thực hiện số hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích mô hình cạnh tranh bằng chất lượng, mô hình du lịch xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Xây dựng, ban hành và hướng dẫn áp dụng thống nhất bộ chỉ số đánh giá điểm đến du lịch thông minh; bộ chỉ số theo dõi, đánh giá năng lực phát triển du lịch toàn ngành; trung tâm điều hành du lịch thông minh.

Xây dựng quy chế quản trị du lịch hiện đại, cơ chế điều phối và liên kết đa ngành từ trung ương đến địa phương để kết nối doanh nghiệp, hình thành chuỗi giá trị du lịch đồng bộ; xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và xúc tiến du lịch trên môi trường điện tử; hỗ trợ doanh nghiệp du lịch ứng dụng nền tảng thương mại điện tử hợp pháp, nâng cao năng lực kinh doanh, quảng bá và bán sản phẩm, dịch vụ du lịch trên môi trường điện tử, thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới và thanh toán không dùng tiền mặt.

Phát triển hệ thống điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch xanh; phát triển giao thông xanh bằng phương tiện sạch (xe điện, xe buýt điện) tại các đô thị, đảo du lịch và khu vực kinh tế đêm, kết hợp ứng dụng công nghệ quản lý năng lượng thông minh, vật liệu thân thiện môi trường và mô hình kinh tế tuần hoàn trong toàn ngành...

Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 463/TB-VPCP ngày 8/9/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 4.

8 tháng đầu năm 2026, du lịch của tỉnh Điện Biên đạt doanh thu 2.052 tỷ đồng; đón trên 1,1 triệu lượt khách, tăng 19,8%.

Giải ngân vốn đầu tư công đạt 2.742,842 tỷ đồng, bằng 58,74% kế hoạch

Thông báo kết luận nêu rõ, 8 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh Điện Biên ước tăng 12,02%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 15,66%; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 20,77%; du lịch đạt doanh thu 2.052 tỷ đồng; đón trên 1,1 triệu lượt khách, tăng 19,8%.

Thu ngân sách nhà nước 8 tháng đạt 1.440,711 tỷ đồng, đạt 94,47% dự toán Trung ương giao. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 2.742,842 tỷ đồng, bằng 58,74% kế hoạch. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế tiếp tục được quan tâm, đã khánh thành và đưa vào sử dụng 09 trường phổ thông nội trú liên cấp chuẩn bị cho năm học 2026 - 2027. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc cần tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. Môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính có mặt chậm được cải thiện; chỉ số cải cách hành chính còn thấp; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong một số lĩnh vực quan trọng chưa đáp ứng yêu cầu; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn; thường xuyên chịu ảnh hưởng tiêu cực của thiên tai, bão lũ.

Thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng quý III, quý IV theo từng ngành, lĩnh vực

Về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, Thông báo nêu rõ: Chính phủ luôn đồng hành, hỗ trợ, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để tỉnh Điện Biên hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Đề nghị Tỉnh Biện Biên tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp đã được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo tại Thông báo số 12-TB/VPTW ngày 04 tháng 2 năm 2026 và Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 404/TB-VPCP ngày 27 tháng 7 năm 2026, trong đó Thủ tướng Chính phủ đã giao 10 nhiệm vụ, giải pháp rất cụ thể cho Tỉnh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng đề nghị Tỉnh Biện Biên thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng quý III, quý IV theo từng ngành, lĩnh vực; xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm đối với chỉ tiêu còn chậm để có giải pháp tháo gỡ cụ thể theo đúng yêu cầu của Chính phủ.

Giữ vững và phát huy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công thuộc nhóm đầu cả nước, phấn đấu đến hết năm 2026 đạt 100% kế hoạch, sẽ xem xét điều chuyển nguồn vốn đầu tư công từ những địa phương giải ngân chậm hoặc hiệu quả đầu tư thấp để bổ sung cho tỉnh nếu các dự án của Điện Biên bảo đảm hiệu quả cao và tiến độ giải ngân theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 213/TB-VPCP ngày 25 tháng 4 năm 2026; ưu tiên nguồn lực cho các dự án quan trọng, trọng điểm; triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án ODA đã được chấp thuận chủ trương đầu tư và các dự án đã được phê duyệt khoản vay.

Chủ động phòng, chống, ứng phó với các tình huống thiên tai, bão lũ

Tỉnh Điện Biên cần chủ động phòng, chống, ứng phó với các tình huống thiên tai, bão lũ trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra các công trình hồ chứa nước, đập thủy điện, hệ thống thoát nước đô thị và các công trình cấp nước sinh hoạt, rà soát các khu vực có nguy cơ sạt lở đất, ngập úng đô thị để có phương án xử lý kịp thời.

Đồng thời, triển khai quyết liệt, có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đặc biệt là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 62/CĐ-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2026; bảo đảm các em học sinh có đủ điều kiện thiết yếu để học tập và sinh hoạt.

Bên cạnh đó, khẩn trương bảo tồn, phát huy giá trị di tích Chiến trường Điện Biên Phủ và văn hóa các dân tộc để phát triển du lịch và kết hợp với Chương trình mục tiêu quốc gia. Rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân; tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người dân giai đoạn 2026 - 2030, lấy y tế cơ sở làm nền tảng.

Hoàn thiện cơ chế vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp theo đúng tinh thần Kết luận số 64-KL/TW ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quyết liệt cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính theo Kết luận 226-KL/TW ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Ban Bí thư.

Hỗ trợ cho tỉnh Lai Châu thực hiện dự án xây dựng khu tái định cư tập trung cho các hộ dân trên địa bàn xã Mường Than 

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1742/QĐ-TTg ngày 8/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ cho tỉnh Lai Châu thực hiện dự án xây dựng khu tái định cư tập trung cho các hộ dân trên địa bàn xã Mường Than.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 5.

Hỗ trợ cho tỉnh Lai Châu thực hiện dự án xây dựng khu tái định cư tập trung cho các hộ dân trên địa bàn xã Mường Than

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ 100 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2026 cho tỉnh Lai Châu để thực hiện dự án xây dựng khu tái định cư tập trung cho các hộ dân trên địa bàn xã Mường Than.

Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu có trách nhiệm cân đối, bố trí nguồn lực của địa phương và các nguồn tài chính hợp pháp khác, cùng với số kinh phí được ngân sách hỗ trợ để triển khai thực hiện dự án, di dời khẩn cấp các hộ dân trên địa bàn xã Mường Than ra khỏi vùng nguy hiểm, việc di dời dân cư phải gắn với đảm bảo sản xuất, sinh kế bền vững cho người dân, tuyệt đối không để người dân quay lại vùng sạt lở.

Đồng thời, quản lý, sử dụng số kinh phí bổ sung nêu trên bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích sử dụng, đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật khác có liên quan, không để thất thoát, tiêu cực; đồng thời báo cáo kết quả sử dụng về Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan liên quan để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu chịu trách nhiệm về việc xác định số kinh phí bổ sung, các nội dung, số liệu báo cáo và đề xuất, kiến nghị, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra, giám sát, hướng dẫn tỉnh Lai Châu tổ chức thực hiện dự án; trường hợp phát hiện phân bổ, sử dụng vốn không đúng phạm vi, đối tượng, quy định của pháp luật, báo cáo cấp có thẩm quyền thu hồi về ngân sách trung ương và xử lý theo quy định.

Nghị quyết về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia 

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị quyết số 264/NQ-CP ngày 7/9/2026 về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/9/2026- Ảnh 6.

Từ ngày 1/10/2026, Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

Cụ thể, Chính phủ quyết nghị đồng ý chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia; trong đó, chuyển giao nguyên trạng Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng quản lý và một phần diện tích đất nằm trong quy hoạch Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý.

Chi tiết Phương án chuyển giao đất tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

Bàn giao trước ngày 1/10/2026

Chính phủ yêu cầu việc bàn giao và tiếp nhận phải hoàn thành trước ngày 1/10/2026. Từ ngày 1/10/2026, Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý Khu Liên hợp thể thao quốc gia.

Việc quản lý, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao, đất đai, tài sản, tài chính, nhân sự tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia thực hiện theo quy định của pháp luật về thể dục, thể thao, đất đai, đầu tư, tài chính, tài sản công và pháp luật khác có liên quan; bảo đảm hiệu quả, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực.

Chính phủ giao Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc chuyển giao Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo quy định tại Nghị quyết này và các quy định pháp luật khác có liên quan; hoàn thành trước ngày 15/9/2026; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các thủ tục bàn giao theo quy định của pháp luật; tổ chức bàn giao đất đai về Bộ Quốc phòng, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội theo phương án đã được phê duyệt; bàn giao nguyên trạng tổ chức bộ máy, nhân sự, tài sản, tài chính, tài liệu, các quyền, nghĩa vụ có liên quan, các hoạt động, nhiệm vụ, công việc và các dự án đầu tư công đã và đang thực hiện tại Khu Liên hợp thể thao quốc gia về Bộ Quốc phòng sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trong quá trình chuyển giao, Cục Thể dục thể thao Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu Liên hợp thể thao quốc gia; Khu Liên hợp thể thao quốc gia tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sử dụng con dấu hiện nay cho tới khi Bộ Quốc phòng hoàn thành việc tiếp nhận, ban hành quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo mô hình quản lý mới.

Khu Liên hợp thể thao quốc gia tiếp tục sử dụng kinh phí và triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch ngân sách đã được phê duyệt (nếu có), trừ trường hợp có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Đảm bảo hoạt động của Khu Liên hợp thể thao không bị gián đoạn

Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức tiếp nhận và quản lý Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo phương án đã được phê duyệt và theo quy định của pháp luật; ban hành quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Khu Liên hợp thể thao quốc gia theo mô hình quản lý mới; bố trí ngân sách để bảo đảm kinh phí hoạt động của Khu Liên hợp thể thao quốc gia không bị gián đoạn từ thời điểm hoàn thành tiếp nhận bàn giao.

Đồng thời, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan thực hiện các nghĩa vụ và xử lý các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của Khu Liên hợp Thể thao quốc gia trong "phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và theo quy định pháp luật; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức tiếp nhận phần diện tích đất đai theo phương án đã được phê duyệt; xây dựng phương án quản lý, sử dụng đối với phần đất tiếp nhận, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng trong quá trình bàn giao, tiếp nhận Khu Liên hợp thể thao quốc gia; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Thành phố cung cấp, đối chiếu và hoàn thiện hồ sơ, tài liệu có liên quan theo thẩm quyền.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng rà soát hiện trạng quản lý, sử dụng đất; xác định ranh giới, diện tích, mốc giới và hồ sơ địa chính của các cơ sở đất thuộc Khu Liên hợp thể thao quốc gia; thực hiện hoặc hướng dẫn thực hiện các thủ tục về đất đai, đăng ký biến động đất đai và các thủ tục có liên quan thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Rà soát, cung cấp thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, hạ tầng kỹ thuật và các nội dung quản lý nhà nước khác của địa phương có liên quan; phối hợp xử lý các tồn tại, vướng mắc về đất đai, trật tự xây dựng và nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có) theo thẩm quyền, bảo đảm việc quản lý, khai thác Khu Liên hợp thể thao quốc gia được liên tục, đúng quy định của pháp luật.

Các Bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, thực hiện hướng dẫn, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội xử lý các vấn đề vướng mắc, vượt thẩm quyền của cơ quan chuyển giao, tiếp nhận (nếu có)./.