
Chính phủ ban hành Nghị định số 147/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội.
Nghị định này hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài, bao gồm: 1- Điều 11 quy định xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định; 2- Điều 12 quy định xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất; 3- Điều 13 quy định xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật; 4- Khoản 4 Điều 16 sửa đổi mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV.
Trong đó, một nội dung đáng chú ý của Nghị định là hướng dẫn xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định.
Rà soát các điều kiện để xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định
Nghị định hướng dẫn việc rà soát các điều kiện để xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thực hiện như sau:
Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát sự phù hợp của dự án với các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Sở Xây dựng tổng hợp kết quả đánh giá điều kiện và lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định đối với từng dự án. Hồ sơ gồm:
- Tờ trình;
- Dự thảo quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định;
- Ý kiến của các cơ quan liên quan;
- Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
Đối với các tỉnh, thành phố tổ chức riêng Sở Quy hoạch - Kiến trúc thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công Sở Xây dựng hoặc Sở Quy hoạch - Kiến trúc thực hiện các nhiệm vụ quy định trên.
Đối với diện tích đất được điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trên thì không phải thực hiện điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất.
Quy định về thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất
Về thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Nghị định quy định như sau:
1- Trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Môi trường:
a) Xác định giá đất và chuyển thông tin đến cơ quan thuế để cơ quan thuế tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung theo quy định tại Điều 5 Nghị định này đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 sau khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định;
b) Ban hành Quyết định công bố danh sách các giấy chứng nhận đã cấp thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16; tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp giấy chứng nhận; số phát hành (số seri của giấy chứng nhận); số vào Sổ cấp giấy chứng nhận.
Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì việc ban hành quyết định tại điểm này được thực hiện khi có giấy tờ hoặc thông tin của cơ quan thuế chứng minh nhà đầu tư, chủ đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
2- Trách nhiệm của Văn phòng đăng ký đất đai:
a) Đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng về danh sách số phát hành (số seri của giấy chứng nhận), số vào Sổ cấp giấy chứng nhận của các giấy chứng nhận đã cấp thuộc trường hợp quy định tại điểm 1b nêu trên. Việc đăng tin được thực hiện 03 lần, mỗi lần cách nhau 30 ngày;
b) Trường hợp có địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì gửi thông báo bằng văn bản cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện điều chỉnh mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất.
c) Gửi thông báo bằng văn bản kèm theo danh sách số phát hành (số seri của giấy chứng nhận), số vào Sổ cấp giấy chứng nhận của các giấy chứng nhận quy định tại điểm 1b nêu trên đến Sở Tư pháp, các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, cơ quan, tổ chức, các bên có liên quan (nếu có) để thông tin đến người sử dụng đất, người sở hữu tài sản và các bên có liên quan khi thực hiện giao dịch;
d) Thực hiện chỉnh lý, cập nhật vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp phải cấp mới theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp; trao giấy chứng nhận cho người được cấp.
Trường hợp xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp, Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện tại cột "Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý" của giấy chứng nhận đã cấp như sau: "... (ghi tên loại thông tin thay đổi) đã thay đổi từ... thành ... (ghi nội dung thông tin trước và sau khi thay đổi) theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội, theo hồ sơ số... (ghi mã hồ sơ thủ tục đăng ký).
Trường hợp cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đang được thế chấp và đã được đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm thì thực hiện việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; việc trao Giấy chứng nhận được thực hiện đồng thời giữa ba bên gồm Văn phòng đăng ký đất đai, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và bên nhận thế chấp; người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất ký, nhận Giấy chứng nhận mới từ Văn phòng đăng ký đất đai để trao cho bên nhận thế chấp.
3- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp giấy chứng nhận đã cấp kèm theo đơn về việc đăng ký biến động theo quy định về thủ tục đăng ký biến động đất đai đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi nhận được thông báo quy định tại 2 nêu trên.
Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc trường hợp đã lập hợp đồng, văn bản chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được công chứng, chứng thực trước ngày ban hành thông báo quy định điểm 2c nêu trên thì nộp thêm văn bản, giấy tờ về việc chuyển quyền theo quy định của pháp luật về dân sự.
4- Nhà đầu tư, chủ đầu tư nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và pháp luật liên quan.
5- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện:
a) Cấp giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông;
b) Chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.
6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính để thực hiện các quy định trên; trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong các bước thực hiện trình tự, thủ tục, thời gian tối đa thực hiện trình tự, thủ tục, thành phần hồ sơ phải nộp.
Hướng dẫn xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với dự án được điều chỉnh mục đích sử dụng đất sang đất ở
Nghị định quy định thời điểm xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được điều chỉnh mục đích sử dụng đất sang đất ở quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 là thời điểm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất hoặc quyết định cho phép điều chỉnh mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định.
Số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 được xác định như sau:
TBS = T1 - T2
Trong đó:
TBS là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp bổ sung.
T1 là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm Nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp.
T2 là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo mục đích sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm Nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp. Trong đó:
Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được xác định theo quy định của Chính phủ về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và giá đất.
Trường hợp giá đất để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng được xác định căn cứ vào tỷ lệ so với đất ở thì nay cho áp dụng tỷ lệ đó để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Nghị định quy định trường hợp số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp lớn hơn số tiền tính theo giá đất ở tại thời điểm trước đây đã cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì Nhà nước không hoàn trả số tiền chênh lệch.
Đối với phần diện tích của dự án không phải diện tích đất được điều chỉnh sang đất ở theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà thực hiện điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch chi tiết thì việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thực hiện theo pháp luật về đất đai, pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và pháp luật khác có liên quan.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07 tháng 5 năm 2026 đến ngày các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.
Trường hợp các dự án đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2031 chưa kết thúc và được tiếp tục triển khai theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì tiếp tục được áp dụng quy định tại Nghị định này.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Nghị định này thì việc áp dụng cơ chế, chính sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 239/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình triển khai Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13 tháng 02 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Thông báo nêu, việc xây dựng, hoàn thiện và đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai vào vận hành, khai thác hiệu quả là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách nhằm cụ thể hóa chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2022 và của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024; chủ trương của Chính phủ tại Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2025; đồng thời trực tiếp thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 05/CT-TTg về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai bảo đảm "đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung", qua đó tạo nền tảng phục vụ quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, các địa phương và cơ quan liên quan đã có nỗ lực triển khai Chỉ thị số 05/CT-TTg, bước đầu thực hiện một số nhiệm vụ theo phân công. Theo số liệu thống kê, cả nước hiện có tổng số 106 triệu thửa đất. Đến nay, các bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành rà soát, chỉnh lý, cập nhật dữ liệu đáp ứng tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống" 23,5 triệu thửa đất (Nhóm 1); 38,9 triệu thửa đất đã có dữ liệu nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, cần tiếp tục làm giàu, làm sạch, hoàn thiện, đối khớp, bổ sung thông tin (Nhóm 2); và còn 43,2 triệu thửa đất chưa được xây dựng cơ sở dữ liệu (Nhóm 3).
Từ hiện trạng nêu trên, các thửa đất cần tiếp tục làm giàu, làm sạch, hoàn thiện, đối khớp, bổ sung thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu còn khoảng 82,1 triệu thửa đất, tương đương khoảng 77,5% tổng số thửa đất cả nước. Do đó, khối lượng công việc cần hoàn thiện trong năm 2026 theo đúng kế hoạch còn rất lớn. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách, đã được xác định phải hoàn thành trong năm 2026, không còn dư địa để chậm trễ, lùi hoặc giãn tiến độ. Vì vậy, người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương cần phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và sản phẩm đầu ra; tập trung tổ chức thực hiện, theo kế hoạch tiến độ cụ thể, lượng hóa rõ sản phẩm hoàn thành, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn xử lý theo tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 05/CT-TTg trong năm 2026.
Phó Thủ tướng đã đưa ra một số giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm hoàn thành Chỉ thị số 05/CT-TTg trong năm 2026.
Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, sản phẩm đầu ra đối với các nhiệm vụ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tại Chỉ thị số 05/CT-TTg; đồng thời là đầu mối theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện Chỉ thị này trên phạm vi cả nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương rà soát toàn bộ 19 nhiệm vụ của Chỉ thị số 05/CT-TTg, lập Bảng tiến độ về tình hình thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg để theo dõi, điều hành tiến độ theo từng nhiệm vụ, từng bộ, ngành, địa phương. Trong đó, xác định mốc phấn đấu cơ bản hoàn thành trong quý II năm 2026 đối với thửa đất Nhóm 1 cần duy trì, cập nhật, quản lý, khai thác thửa đất và đối với thửa đất Nhóm 2 cần làm giàu, làm sạch, hoàn thiện, đối khớp, bổ sung thông tin; cơ bản hoàn thành trong quý III năm 2026 việc đo đạc, lập hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu đối với nhóm thửa đất chưa được xây dựng cơ sở dữ liệu để sang quý IV năm 2026 tập trung công tác kiểm điểm, đánh giá, hoàn thiện và đưa vào khai thác.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương và bộ, ngành có liên quan cập nhật Bảng tiến độ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ 02 tuần/lần trong giai đoạn cao điểm từ ngày 15 tháng 5 đến hết tháng 6 năm 2026, sau đó cập nhật hàng tháng hoặc theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Báo cáo cập nhật phải ngắn gọn; xác định rõ địa phương hoàn thành tốt, địa phương chậm tiến độ để kịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hiệu quả; nêu ngắn gọn, rõ ràng khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân chậm tiến độ; thẩm quyền xử lý, phương án xử lý và thời hạn xử lý.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai Chỉ thị số 05/CT-TTg và thúc đẩy hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai năm 2026, dự kiến tổ chức trong tháng 6 năm 2026 theo hình thức họp trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Điều chỉnh nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo và đề xuất việc hỗ trợ ngân sách cho địa phương tại điểm b mục 2.3 phần 2 Chỉ thị số 05/CT-TTg theo hướng: Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp khối lượng, nhu cầu hỗ trợ kinh phí từ ngân sách trung ương để thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của các địa phương, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, rà soát khả năng cân đối của ngân sách trung ương để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong làm sạch, đối khớp, xác thực, đồng bộ dữ liệu đất đai với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Trung tâm dữ liệu quốc gia; hướng dẫn, kiểm tra yêu cầu về an ninh, an toàn, bảo mật thông tin, điều kiện kết nối, chia sẻ dữ liệu, không để vướng mắc về xác thực, kết nối, an toàn dữ liệu làm chậm tiến độ chung.
Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, kiểm soát chặt chẽ khối lượng, định mức, đơn giá, chi phí và chất lượng sản phẩm; trường hợp áp dụng cơ chế đặc thù hoặc hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định thì phải rút ngắn thời gian, giảm chi phí, không để thất thoát, lãng phí.
Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục hướng dẫn, tháo gỡ kịp thời vướng mắc về đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, thuê dịch vụ công nghệ thông tin; hướng dẫn các địa phương sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với các nội dung công nghệ thông tin, chuyển đổi số phục vụ xây dựng, vận hành, cập nhật, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu đất đai theo đúng quy định tại Nghị quyết số 193/2025/QH15, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP và pháp luật có liên quan; không để xảy ra tình trạng đầu tư trùng lặp, không hiệu quả.
Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến khai thác dữ liệu đất đai đã số hóa để thay thế thành phần hồ sơ, giảm giấy tờ, giảm thời gian, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp, đơn vị công nghệ tham gia cung cấp phần mềm, hạ tầng kỹ thuật phải bảo đảm sản phẩm, giải pháp vận hành ổn định, an toàn theo yêu cầu nghiệp vụ, tiêu chuẩn, quy chuẩn, chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối, yêu cầu an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu đất đai tại địa phương; bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 05/CT-TTg trong năm 2026, không để chậm tiến độ vì các lý do chủ quan.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung nguồn lực để tiếp tục làm giàu, làm sạch, hoàn thiện, đối khớp, bổ sung thông tin với các thửa đất đã xây dựng cơ sở dữ liệu nhưng chưa đáp ứng tiêu chí "đúng - đủ - sạch - sống" và đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai ở địa phương đối với những thửa đất chưa được xây dựng cơ sở dữ liệu.
Về đề nghị chỉ định thầu để thực hiện nhiệm vụ trong Chỉ thị số 05/CT-TTg, các bộ, ngành, địa phương chủ động nghiên cứu quy định của pháp luật về đất đai, Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP của Chính phủ, Công văn số 3043/BKHCN-CĐSQG ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, tránh đầu tư trùng lặp, lãng phí; kiểm soát chặt chẽ khối lượng, định mức, đơn giá, chi phí và chất lượng sản phẩm.
Chủ động bố trí ngân sách địa phương, nguồn ngân sách cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và huy động các nguồn hợp pháp để thực hiện nhiệm vụ. Trường hợp khó khăn, không tự cân đối được kinh phí, địa phương báo cáo rõ, đề xuất hỗ trợ từ ngân sách trung ương gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ (đối với các nhiệm vụ liên quan đến khoa học và công nghệ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024) để tổng hợp, xử lý theo quy định.
Phó Thủ tướng yêu cầu khẩn trương rà soát toàn bộ khối lượng công việc, lập kế hoạch tiến độ chi tiết theo địa bàn, nhóm dữ liệu, đơn vị thực hiện; xác định rõ khối lượng đã hoàn thành, khối lượng chưa hoàn thành, khu vực còn "vùng trắng" dữ liệu, khu vực chưa đo đạc, chưa đăng ký đất đai, chưa lập hồ sơ địa chính, chưa xây dựng cơ sở dữ liệu; phân công rõ cơ quan, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm đối với từng nhiệm vụ; trong quá trình thực hiện, kết hợp xử lý theo thẩm quyền các trường hợp tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, vướng mắc pháp lý về đất đai. Dữ liệu đủ điều kiện phải đưa ngay vào quản lý, vận hành, khai thác, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.
Tăng cường thông tin, tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, quyền lợi và trách nhiệm trong việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, làm sạch, đối khớp, xác thực và hoàn thiện dữ liệu đất đai.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong tổ chức thực hiện; không lùi, giãn tiến độ đối với các nhiệm vụ đã được giao; xác định rõ khó khăn, vướng mắc, phân loại và tập trung xử lý ngay các nội dung thuộc thẩm quyền; đối với vấn đề vượt thẩm quyền, phải báo cáo rõ nội dung vướng mắc, nguyên nhân, phương án đề xuất, cơ quan có thẩm quyền xử lý và thời hạn cần xử lý.
Thiết lập cơ chế theo dõi, kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện tại địa phương; kịp thời biểu dương, khen thưởng các cơ quan, đơn vị, cá nhân có cách làm tốt, hoàn thành đúng hoặc vượt tiến độ, bảo đảm chất lượng dữ liệu; đồng thời phê bình, kiểm điểm, xem xét trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân thiếu trách nhiệm, chậm trễ, báo cáo không đúng thực chất, làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành nhiệm vụ trong năm 2026…/.