
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 13/CĐ-TTg ngày 09/02/2026 về việc thực hiện nhiệm vụ chăm lo, hỗ trợ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026.
Tại Công điện, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu c
Chỉ đạo các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công các công trình, dự án (nhất là các công trình trọng điểm quốc gia) có phương án hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đầy đủ, chu đáo cho công nhân, người lao động ở lại làm việc trên công trường trong dịp Tết Nguyên đán, bảo đảm kịp thời, thiết thực...
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026.
Công điện yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; khai thác hiệu quả dư địa của chính sách tài khóa để hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả với chính sách tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; theo dõi sát diễn biến lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản… để điều hành các công cụ chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, mềm mại, không "gây sốc", "giật cục", có lộ trình, phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, quy mô nền kinh tế và mục tiêu chính sách tiền tệ; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ báo cáo Thường trực Chính phủ về việc nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia…
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030 sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm; thép thành phẩm tăng trưởng từ 5,5% - 6,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 32 - 33 triệu tấn/năm; thép tiêu thụ bình quân 270 - 280 kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 80% - 85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Quyết định 288/QĐ-TTg ngày 12/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, thành phố Hải Phòng.
Theo đó, Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng, thành phố Hải Phòng là khu kinh tế chuyên biệt có quy mô diện tích 5.300 ha, nằm trên địa bàn 06 xã: Thượng Hồng, Nguyễn Lương Bằng, Bắc Thanh Miện, Thanh Miện, Hải Hưng và Bình Giang.
Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng có các khu chức năng phù hợp với mục tiêu phát triển của khu kinh tế gồm: khu vực phát triển công nghiệp (khu công nghiệp, cụm công nghiệp ); khu thương mại - dịch vụ tổng hợp; khu vực phi thuế quan và khu dịch vụ logistic; trung tâm logicstic, trung tâm đổi mới sáng tạo.

Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội.
Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể:
"1. Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này."
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định 282/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Mục tiêu của Kế hoạch đến năm 2030 có hệ thống pháp luật công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi; xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý; đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.
Mức độ hài lòng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp đạt tối thiếu 95%, trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%...
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.14/2026/NQ-CP ngày 10/02/2026 về việc xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng.
Nghị quyết này quy định về xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu công chứng để xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Điều 66 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 về Cơ sở dữ liệu công chứng.
Theo Nghị quyết, Cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng bao gồm thông tin về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thông tin về giao dịch được công chứng, thông tin về biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng, văn bản công chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ công chứng.
Cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Cơ sở dữ liệu công chứng phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật.
Việc thu thập, khai thác, sử dụng và cung cấp thông tin Cơ sở dữ liệu công chứng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, bí mật cá nhân, an ninh mạng.

Nghị định số 55/2026/NĐ-CP ngày 9/2/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công.
Trong đó, Nghị định bổ sung quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về khai thác tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo đó, tổ chức có hành vi khai thác tài sản công khi chưa được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành Quyết định khai thác tài sản công theo quy định bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó có nội dung đáng chú ý về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp gồm: chính sách bán cổ phần cho người lao động và chính sách đối với người lao động dôi dư.
Nghị định quy định cụ thể đối tượng được mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.
- Người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác.
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cấp II (chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của doanh nghiệp cấp I.
Các đối tượng nêu trên được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).
Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích:
1- Di tích kiến trúc nghệ thuật Quần thể di tích đình, chùa, từ chỉ Thổ Hà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh.
2- Di tích lịch sử Nhà ngục Kon Tum, phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030.
Để tăng cường chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị, góp phần từng bước kiểm soát và giảm mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất theo các tiêu chuẩn quốc tế; rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển đô thị trong bối cảnh gia tăng nguy cơ từ biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục triển khai hoàn thiện, đồng bộ các cơ chế chính sách, quy định, quy phạm pháp luật về phát triển đô thị tăng trưởng xanh; phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị xanh, thông minh; xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả; tổ chức lập Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2025 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý, sử dụng đất để phát triển đô thị theo đúng quy định pháp luật; tăng cường kiểm soát quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, rà soát các kịch bản thay đổi của khí hậu, phân chia theo mức độ chống chịu với thiên tai, thảm họa; tiếp tục rà soát, xây dựng chương trình phát triển đô thị, kế hoạch phát triển đô thị theo quy định pháp luật trong đó tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị đảm bảo kết nối giữa các khu vực trong đô thị; thực hiện nâng cấp, cải tạo, xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội hiện đại tại đô thị và mạng lưới cung cấp dịch vụ hạ tầng xã hội nhằm thúc đẩy phát triển đô thị thông minh, xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu...
Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/2/2026 phê duyệt “Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030” (Chương trình)
Mục tiêu của Chương trình là tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026 để phân bổ cho 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép, 51 cơ sở sản xuất xi măng như sau:
- Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 là 243.082.392 tấn CO2tđ.
- Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2026 là 268.391.454 tấn CO2tđ.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 265/QĐ-TTg ngày 10/02/2026 phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổ chức thẩm định Hồ sơ và thẩm định thực tế Đề án thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và các quy định của pháp luật có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.