In bài viết

Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống

(Chinhphu.vn) - “10 năm trước, khi tôi còn công tác tại đây, tình trạng thiếu nước đã rất căng thẳng. Đến nay, quay lại, tôi thấy vẫn chưa có chuyển biến mang tính đột phá…”.

22/04/2026 10:33
Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống- Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang cùng các đại biểu và học sinh tham dự Lễ khởi công dự án xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp TH và THCS Nghĩa Thuận (Tuyên Quang), ngày 19/3/2026

Chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang sau chuyến công tác trở lại Tuyên Quang (Hà Giang cũ) vừa qua không chỉ là một ghi nhận thực tế, mà còn gợi ra câu hỏi lớn về hiệu quả cuối cùng của các chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu và miền núi (DTTS&MN).

Bộ trưởng kể lại, tại một trường nội trú, nguồn nước sinh hoạt cho học sinh vẫn phải dẫn từ nơi cách đó tới 10km. Một chi tiết nhỏ, nhưng phản ánh rõ một "khoảng trống" kéo dài trong hạ tầng thiết yếu vùng cao.

"Mục tiêu cuối cùng của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN phải hướng tới giải quyết các nhu cầu thiết yếu nhất của người dân… Vấn đề nước sinh hoạt của đồng bào vùng cao cần phải được giải quyết căn bản", Bộ trưởng nhấn mạnh.

Từ câu chuyện nước sinh hoạt, một yêu cầu cấp bách được đặt ra, chính sách dân tộc thời gian tới không thể dừng ở con số hay tỷ lệ, mà phải "chạm" tới đời sống thực.

Thành tựu rõ nét, nhưng chưa "chạm đáy" vấn đề

Theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021–2025, đề xuất định hướng chính sách dân tộc giai đoạn 2026–2030 ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.

Tăng trưởng kinh tế vùng đồng bào DTTS&MN duy trì ở mức khá cao: Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%, Tây Nam Bộ trên 7%, vượt mức tăng GDP cả nước năm 2024 (7,09%).

Công tác giảm nghèo ghi nhận kết quả rõ nét: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1,03%/năm, riêng vùng DTTS giảm tới 3,4%/năm. Đến năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn 22,36%; thu nhập bình quân đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020.

Hạ tầng thiết yếu được cải thiện đáng kể: 99,3% xã có đường ô tô đến trung tâm; 91,6% thôn có đường ô tô; gần 99% hộ dân có điện; 94,9% người dân sử dụng nước hợp vệ sinh.

Trong giáo dục – y tế, tỷ lệ huy động học sinh tiểu học gần 99%, THCS trên 96%; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,8%; hơn 95% phụ nữ sinh tại cơ sở y tế.

Còn ở khía cạnh quản trị, cải cách thủ tục hành chính thời gian qua được đẩy mạnh. Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr thông tin: "Bộ đã thực thi đơn giản hóa 100% thủ tục hành chính trong lĩnh vực công tác dân tộc theo phương án phân cấp, đồng thời phân cấp 3 thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo".

Về đơn giản hóa TTHC trong thực hiện phân cấp theo chính quyền địa phương 2 cấp, đã cắt giảm, đơn giản hóa 78/108 TTHC trong lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (đạt 72,2%); đồng thời đơn giản hóa TTHC nội bộ khi công khai và nhập dữ liệu 118 TTHC nội bộ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia.

Nhận diện một số vướng mắc

Dù vậy, những câu chuyện như ở Tuyên Quang (Hà Giang cũ) cho thấy khoảng cách giữa chính sách và đời sống vẫn hiện hữu.

Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là còn sự chưa đồng bộ của hệ thống chính sách, đặc biệt trong các chương trình mục tiêu quốc gia. Tiến độ giải ngân chậm, cơ chế phối hợp chưa nhịp nhàng, năng lực tổ chức thực hiện ở một số nơi còn hạn chế.

Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống- Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr

Thứ trưởng Y Vinh Tơr chia sẻ: "Trong Chương trình Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 – 2030 (giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025) thì phải đến khoảng năm 2023, hệ thống văn bản mới cơ bản hoàn thiện, lại trùng với giai đoạn dịch COVID-19, đây là yếu tố khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ triển khai".

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở thủ tục. Những "điểm nghẽn" căn cơ như thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt hay sinh kế bền vững vẫn chưa được xử lý dứt điểm, đặc biệt tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.

Một lưu ý đáng chú ý nữa được Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang chỉ ra liên quan đến cơ chế đối ứng vốn. Theo đó, dù chưa phát sinh ngay nhưng phải sớm tính bài toán đối ứng vốn cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2035.

Theo ông, các xã nghèo, tỉnh nghèo, nơi chính sách dân tộc hướng tới lại chính là nơi có khả năng huy động nguồn lực thấp nhất. Nếu không thiết kế cơ chế linh hoạt, chính sách dễ rơi vào tình trạng "có tiền mà không tiêu được", hoặc không đến đúng nơi cần nhất.

Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ ‘chạm’ đời sống- Ảnh 3.

Chính sách dân tộc giai đoạn 2026–2030 được định hướng chuyển từ "đa chương trình, đa mục tiêu" sang "ít đầu mối, rõ kết quả"

Giai đoạn mới: Đo bằng chất lượng sống

Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận. Chính sách dân tộc giai đoạn 2026–2030 được định hướng chuyển mạnh từ "đo đầu vào" sang "đo kết quả cuối cùng". Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp, gồm:

Hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực quản lý: Rà soát, tinh gọn chính sách, tránh chồng chéo; chuyển từ "đa chương trình, đa mục tiêu" sang "ít đầu mối, rõ kết quả". Đẩy mạnh phân cấp, gắn trách nhiệm giải trình. Xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất vùng DTTS&MN làm nền tảng phân bổ nguồn lực, giám sát. Hoàn thiện cơ chế quản lý Chương trình MTQG, giao mục tiêu gắn kết quả, tăng quyền chủ động cho địa phương.

Phát triển kinh tế, sinh kế bền vững: Chuyển từ "hỗ trợ" sang "phát triển chủ thể". Tập trung nâng năng lực sản xuất, quản trị cộng đồng, tiếp cận thị trường. Khai thác lợi thế từng vùng; phát triển kinh tế rừng, dược liệu, nông sản đặc sản, OCOP, du lịch cộng đồng; tín dụng ưu đãi gắn với thị trường.

Phát triển hạ tầng thiết yếu, kết nối số: Ưu tiên giải quyết dứt điểm nhu cầu căn bản như giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế, viễn thông, internet, cảnh báo thiên tai. Tránh dàn trải, tập trung vào địa bàn đặc biệt khó khăn.

Xử lý các "điểm nghẽn" đặc thù: Giải quyết thiếu đất ở, đất sản xuất; linh hoạt cơ chế sử dụng đất miền núi; giao đất, giao rừng gắn sinh kế. Hoàn thiện hệ thống cấp nước bền vững. Gắn phát triển với bảo vệ rừng, an ninh nguồn nước, ổn định dân cư, kinh tế xanh, thích ứng biến đổi khí hậu.

Phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ xã hội: Nâng chất dinh dưỡng, y tế cơ sở; đầu tư trường nội trú, bán trú; ưu tiên giáo dục mầm non vùng khó khăn; tăng cường tiếng Việt song song bảo tồn tiếng mẹ đẻ. Đào tạo nghề gắn việc làm, phát triển cán bộ người DTTS. Đổi mới đào tạo theo nhu cầu thị trường, thí điểm chính sách đặc thù cho nhóm dân tộc rất ít người.

Bảo tồn văn hóa gắn vai trò cộng đồng: Đẩy mạnh mô hình "bảo tồn sống", gắn di sản với du lịch, sinh kế; cộng đồng là chủ thể quản lý và hưởng lợi.

Và chính sách, suy cho cùng, không nằm trên giấy. Nó hiện diện trong từng giọt nước chảy về bản, từng con đường đến trường, từng bữa ăn đủ dinh dưỡng của trẻ em vùng cao… Giai đoạn tới sẽ là phép thử, liệu những trăn trở đã được nhận diện có thực sự được giải quyết tận gốc rễ của vấn đề.

Sơn Hào