
Nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án dự án BT chuyển tiếp
Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao được thực hiện trước thời điểm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành (gọi là dự án BT chuyển tiếp); áp dụng đối với danh mục dự án BT chuyển tiếp tại các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Theo Nghị định quy định, dự án BT chuyển tiếp được áp dụng các quy định tại Nghị quyết này khi đáp ứng các điều kiện sau:
Đã được báo cáo, tổng hợp trên Hệ thống thông tin quốc gia về cơ sở dữ liệu các dự án đầu tư có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài (gọi là Hệ thống 751). Các dự án tại Phụ lục I không cần đáp ứng điều kiện này.
Đã có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc đã có văn bản kết luận của cấp có thẩm quyền về việc không phải thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dự án và nội dung hợp đồng dự án. Các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (gọi là cơ quan có thẩm quyền) xem xét, quyết định việc thực hiện thanh tra đối với dự án và chịu trách nhiệm toàn diện với quyết định của mình.
1. Cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận với nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật về đầu tư theo phương thức PPP, Nghị quyết này và pháp luật khác có liên quan, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước và nhà đầu tư theo một trong các nguyên tắc sau:
a) Tiếp tục ký kết hợp đồng hoặc dừng thực hiện đối với dự án đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa ký kết hợp đồng thực hiện hợp đồng.
b) Tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã ký kết hoặc chấm dứt hợp đồng đối với dự án đã ký kết hợp đồng nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình BT.
2. Việc xem xét tiếp tục ký kết hợp đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 nêu trên được áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã thực hiện một hoặc một số hoạt động sau đây:
a) Đã ứng vốn hoặc tham gia thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng hoặc các công việc phục vụ triển khai dự án theo thỏa thuận;
b) Đã phát sinh chi phí hợp pháp liên quan đến việc chuẩn bị và triển khai dự án trên cơ sở yêu cầu hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.
3. Đối với dự án chưa hoàn thành ký kết hợp đồng mà phải dừng thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 nêu trên, cơ quan có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước để hoàn trả cho nhà đầu tư các chi phí hợp pháp liên quan đến việc chuẩn bị và triển khai dự án trên cơ sở yêu cầu hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.
Trong quá trình xử lý vướng mắc đối với các dự án BT chuyển tiếp theo Nghị quyết này, trường hợp phải điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi, cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh đề xuất dự án.
Trường hợp nhà đầu tư đã ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với quỹ đất thanh toán dự án BT theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai, cơ quan có thẩm quyền thực hiện như sau:
Đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất đủ điều kiện tiếp tục thanh toán toàn bộ quỹ đất cho nhà đầu tư theo quy định tại Điều 4 hoặc Điều 5 của Nghị quyết này thì kinh phí mà nhà đầu tư đã tự nguyện ứng trước được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán. Số tiền được trừ không vượt quá giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào chi phí đầu tư của dự án đối ứng.
Đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất thuộc trường hợp chỉ thanh toán phần quỹ đất có giá trị tương đương phần giá trị quyết toán công trình dự án BT hoàn thành thì kinh phí mà nhà đầu tư đã ứng được khấu trừ vào giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán. Số tiền được trừ không vượt quá giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào chi phí đầu tư của dự án đối ứng.
Trường hợp nhà đầu tư đã ứng kinh phí để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với phần diện tích vượt khỏi phần diện tích quỹ đất giao cho nhà đầu tư, cơ quan có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước để hoàn trả chi phí này cho nhà đầu tư.
Đối với dự án phải chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc dự án chưa hoàn thành ký kết hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước để hoàn trả kinh phí mà nhà đầu tư đã ứng.
1. Trường hợp do quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết được điều chỉnh hoặc do quỹ đất dự kiến thanh toán không còn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mà dẫn đến thay đổi vị trí quỹ đất dự kiến thanh toán trong hợp đồng dự án đã ký kết, cơ quan có thẩm quyền thực hiện như sau:
a) Đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất đủ điều kiện tiếp tục thanh toán cho nhà đầu tư theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết này, cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận, ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng dự án với nhà đầu tư để điều chỉnh quỹ đất thanh toán hoặc chuyển đổi hình thức thanh toán từ thanh toán bằng quỹ đất sang thanh toán bằng ngân sách nhà nước;
b) Đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất đủ điều kiện tiếp tục thanh toán cho nhà đầu tư theo quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này, cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận, ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng dự án với nhà đầu tư để chuyển đổi hình thức thanh toán từ thanh toán bằng quỹ đất sang thanh toán bằng ngân sách nhà nước.
2. Trình tự, thủ tục thanh toán bằng quỹ đất hoặc ngân sách nhà nước sau khi ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng dự án theo quy định tại khoản 1 nêu trên thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ về việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao và về cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
Đối với dự án BT chuyển tiếp sử dụng tài sản công là trụ sở làm việc để thanh toán cho nhà đầu tư được xác định có nội dung hợp đồng chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận, thống nhất với nhà đầu tư thực hiện theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 4 Điều 5 Nghị quyết này.
Đối với dự án BT chuyển tiếp đủ điều kiện tiếp tục thanh toán theo quy định tại Điều 4 hoặc Điều 5 Nghị quyết này mà sử dụng quỹ đất thanh toán có phần đất thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 217 Luật Đất đai năm 2024 và không thể tách phần đất này để thực hiện dự án độc lập thì Nhà nước thu hồi phần đất này để thanh toán nhà đầu tư.
Đối với dự án BT chuyển tiếp áp dụng hình thức thanh toán bằng quỹ đất hoặc tài sản công đủ điều kiện tiếp tục thanh toán theo quy định tại Điều 4 hoặc Điều 5 của Nghị quyết này, thời điểm xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của quỹ đất thanh toán là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất.
Trường hợp nhà đầu tư đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao công trình BT trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán cho nhà đầu tư theo cam kết tại hợp đồng dự án thì nhà đầu tư được hưởng thêm một khoản tiền tương ứng với mức lãi vay theo quy định tại hợp đồng dự án đối với phần giá trị hoàn thành của hạng mục công trình hoặc công trình. Trường hợp hợp đồng dự án không quy định mức lãi vay thì áp dụng mức lãi suất trung bình do các Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ công bố tại thời điểm sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Thời gian được hưởng tính từ thời điểm nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình dự án BT đến thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 7/4/2026 đến hết ngày 31/12/2027.
Minh Hiển