In bài viết

Chồng lấn đất trên bản đồ địa chính, xử lý thế nào?

(Chinhphu.vn) - Bản đồ địa chính được chỉnh lý khi thửa đất và các yếu tố khác liên quan đến nội dung bản đồ địa chính quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP có thay đổi.

05/11/2026 08:02

Thửa đất số 1 có chủ sử dụng đất là gia đình ông A; thửa đất số 2 có chủ sử dụng là gia đình ông B; thửa đất số 3 có chủ sử dụng đất là gia đình ông C. Các thửa 1, 2, 3 là các thửa đất liền kề trong khu dân cư (đất xây dựng nhà ở trong khu dân cư; hiện trạng sử dụng là nhà ở của các hộ gia đình).

Năm 2005, địa phương thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính cho khu vực, trong đó có 3 thửa đất nêu trên và thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà.

Đến nay, thửa đất số 2 và số 3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất số 1 chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trước đây khi đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà thì thửa đất này có trong phương án cấp Giấy chứng nhận của địa phương. Tuy nhiên gia đình chưa có nhu cầu nên chưa đề nghị cấp Giấy chứng nhận).

Năm 2021, gia đình ông A đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 1. Theo đó, đơn vị đo đạc thực hiện đo hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 1 theo hiện trạng đang quản lý sử dụng.

Kết quả đo đạc hiện trạng cho thấy, so với bản đồ địa chính lập năm 2005 có sự sai lệch, 3 thửa đất bị chồng lấn. Đáng chú ý, ranh giới hiện trạng đã sử dụng ổn định từ trước đến nay, gia đình ông B đã xây dựng công trình trước, gia đình ông C đã xây dựng công trình trước, gia đình ông A xây dựng công trình sau cùng; đến nay ranh giới hiện trạng đã tồn tại công trình của 3 gia đình.

Các gia đình đều không có tranh chấp gì từ trước đến nay và đều tôn trọng ranh giới thực tế hiện trạng (khi xây dựng công trình, các gia đình đều chỉ dẫn mốc giới). Chỉ đến khi năm 2021 đơn vị đo đạc thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 1 và thông báo kết quả so với bản đồ địa chính lập năm 2005 có sai lệch, chồng lấn thì các gia đình đều ngạc nhiên.

Đến nay việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1 gặp khó khăn do vướng mắc nêu trên.

Vướng mắc này là trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Tuy nhiên về mặt quản lý nhà nước, ông Trần Văn Hùng (Ninh Bình) đề nghị cơ quan cấp trên có hướng dẫn chung cách giải quyết dựa trên những căn cứ pháp luật hiện hành.

Cá nhân ông Hùng đề xuất một số hướng giải quyết như sau:

Phương án 1, cả 3 hộ gia đình đều công nhận ranh giới theo hiện trạng là đúng và đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo ranh giới hiện trạng các gia đình đang quản lý sử dụng.

Phương án 2, các hộ gia đình tặng cho nhau phần diện tích đất bị chồng lấn.

Phương án 3, các hộ gia đình chuyển nhượng cho nhau phần diện tích đất bị chồng lấn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các đối tượng địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính cấp xã, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

Tại khoản 2 Điều 50 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "2. Bản đồ địa chính phải được chỉnh lý khi có sự thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất và các yếu tố khác có liên quan đến nội dung bản đồ địa chính và đồng thời được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai".

Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định: "1. Bản đồ địa chính được chỉnh lý khi thửa đất và các yếu tố khác liên quan đến nội dung bản đồ địa chính quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này có thay đổi".

Theo đó có nội dung về thửa đất: ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất.

Tại điểm đ khoản 2 Điều 6 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ quy định một trong các căn cứ để chỉnh lý bản đồ địa chính là kết quả kiểm tra của Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã đối với trường hợp người sử dụng đất có văn bản phản ánh về các sai khác thông tin của thửa đất.

Căn cứ các quy định nêu trên, đối với trường hợp thửa đất đã được đo đạc lập bản đồ địa chính nhưng người sử dụng đất có văn bản phản ánh về các sai khác thông tin của thửa đất thì đây là một trong các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ở địa phương thực hiện kiểm tra, rà soát; trên cơ sở đó thực hiện việc chỉnh lý bản đồ địa chính bảo đảm nguyên tắc phản ánh trung thực, khách quan hiện trạng sử dụng đất và ghi nhận tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm đo đạc (điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP).

Đối với các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận, pháp luật đất đai cũng đã có quy định về việc đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật tại Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin đến ông để biết, nghiên cứu, thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chinhphu.vn