In bài viết

Công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

(Chinhphu.vn) - Hệ thống ra đời là dấu mốc quan trọng trong lộ trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia nhằm góp phần phát triển nền "nông nghiệp minh bạch, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam và củng cố niềm tin người tiêu dùng trong nước và thị trường quốc tế".

30/06/2026 17:04
Công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản- Ảnh 1.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là nền tảng dữ liệu dùng chung, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và liên thông với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp... - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Hôm nay (30/6), tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Lễ công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức hoạt động sau thời gian thí điểm thành công đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu.

Việc đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam vào hoạt động thể hiện quyết tâm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc lấy dữ liệu làm nền tảng phục vụ quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, phát triển thị trường và nâng cao uy tín, giá trị nông sản Việt Nam. Hệ thống không chỉ hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tra cứu, xác thực thông tin sản phẩm mà còn hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và liên thông với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam được xây dựng gồm 3 hợp phần chính: Hợp phần dành cho người dân tra cứu thông tin; Hợp phần quản trị phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia chuỗi; Ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động, thiết bị thông minh. 

Hệ thống được phát triển theo kiến trúc hiện đại, hướng dịch vụ, mở rộng linh hoạt, bảo đảm vận hành liên tục, đáp ứng yêu cầu của một nền tảng dùng chung cấp quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp; trong đó điểm mới quan trọng của Hệ thống là khả năng xác thực, minh bạch và bảo đảm toàn vẹn dữ liệu thông qua ký số điện tử, công nghệ chuỗi khối; định danh sản phẩm theo chuẩn GS1 quốc tế, mã QR theo GS1 Digital Link; trao đổi dữ liệu theo chuẩn thống nhất, tạo điều kiện để nhiều đơn vị giải pháp cùng tham gia, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp công nghệ riêng lẻ.

Theo kết quả kiểm thử, Hệ thống có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây; 30.000 người quét tem truy xuất đồng thời; trên 85 triệu lượt quét tem truy xuất/ngày và khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng để Hệ thống có thể mở rộng khi triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản- Ảnh 2.

Truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Đến nay, Hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm, thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố. Đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu, đã có 16 doanh nghiệp tham gia thí điểm; bước đầu có 6 container của các doanh nghiệp xuất khẩu thành công sang thị trường Trung Quốc thông qua việc áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử trên Hệ thống của Bộ. 

Hệ thống cũng đã và đang được kết nối với các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu nông sản; các địa phương đã có hệ thống truy xuất nguồn gốc; đồng thời bảo đảm yêu cầu kết nối, liên thông với các bộ, ngành liên quan và Trung tâm Dữ liệu quốc gia thuộc Bộ Công an theo quy định về an toàn thông tin, an ninh mạng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm. Việc chính thức đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam vào hoạt động sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm; đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong giám sát, cảnh báo, truy xuất và xử lý khi phát sinh vấn đề về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Cùng với đó, Hệ thống cũng tạo nền tảng quan trọng để các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và các chủ thể trong chuỗi giá trị nông sản từng bước chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ dữ liệu về vùng trồng, cơ sở sản xuất, cơ sở đóng gói, chế biến, phân phối, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, góp phần hình thành hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp thống nhất, đồng bộ, phục vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế số nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai Hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc. Đồng thời, Bộ sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng Hệ thống một cách hiệu quả, thiết thực.

Đỗ Hương