Đầu tư tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo sau năm 2030
(Chinhphu.vn) - Bộ Xây dựng vừa có văn bản gửi UBND tỉnh Quảng Trị về việc hỗ trợ nghiên cứu tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo.

Tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo có chiều dài khoảng 114km, khổ đường tiêu chuẩn 1.435mm, lộ trình đầu tư sau năm 2030
Cụ thể, quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo có chiều dài khoảng 114km, khổ đường tiêu chuẩn 1.435mm, lộ trình đầu tư sau năm 2030.
Theo khoản 2 Điều 19 Luật Đường sắt, tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo (bao gồm các nhà ga trên tuyến) do Bộ Xây dựng là cơ quan có thẩm quyền tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết; đối với quy hoạch khu vực phát triển đô thị lấy định hướng giao thông công cộng làm cơ sở quy hoạch (TOD) của tuyến đường sắt này, UBND tỉnh Quảng Trị là cơ quan chủ trì tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch khu vực TOD theo Điều 25 Luật Đường sắt.
Bộ Xây dựng hoan nghênh đề xuất tự nguyện hỗ trợ kinh phí của Công ty cổ phần Liên doanh cảng quốc tế Mỹ Thủy nhằm thực hiện công tác lập quy hoạch tuyến đường sắt Mỹ Thủy-Lao Bảo, phù hợp với chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân hỗ trợ nguồn lực cho hoạt động quy hoạch.
Bộ Xây dựng đề nghị UBND tỉnh Quảng Trị chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với Công ty cổ phần Liên doanh cảng quốc tế Mỹ Thủy lập hồ sơ đề xuất hỗ trợ lập quy hoạch, trong đó cam kết rõ về tính tự nguyện, không vụ lợi, không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân, đồng thời không được can thiệp vào định hướng, nội dung chuyên môn quy hoạch.
Bộ Xây dựng cũng lưu ý, hồ sơ cần cung cấp đầy đủ thông tin tình hình triển quy hoạch mạng lưới đường sắt phía Lào, đặc biệt khu vực biên giới Lao Bảo gửi về Bộ Xây dựng xem xét, quyết định làm cơ sở triển khai bước tiếp theo.
Theo quy hoạch đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới đường sắt hiện có gồm 7 tuyến với tổng chiều dài khoảng 2.510km. Trong đó, 6 tuyến được đầu tư trong giai đoạn trước và sau năm 2030, gồm ba tuyến khổ 1.000mm gồm: Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh (1.726km), Hà Nội-Lào Cai (296km), Hà Nội-Hải Phòng (102km); ba tuyến khổ lồng 1.000mm-1.435mm gồm: Hà Nội-Thái Nguyên (55km), Hà Nội-Lạng Sơn (167km), Kép-Hạ Long-Cái Lân (108km). Riêng tuyến Kép-Lưu Xá dài 56km, khổ 1.435mm, dự kiến đầu tư sau năm 2030.
Đối với các tuyến đường sắt xây dựng mới, quy hoạch xác định 16 tuyến khổ tiêu chuẩn 1.435mm.
Trong số này, 10 tuyến được triển khai trong giai đoạn trước và sau năm 2030, gồm 4 tuyến khu vực phía Bắc: Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng (363km), Hà Nội-Đồng Đăng (156km), Hải Phòng-Hạ Long-Móng Cái (187km), tuyến Vành đai phía Đông Hà Nội đoạn Ngọc Hồi-Kim Sơn (31km).
Khu vực phía Nam có 4 tuyến gồm: Biên Hòa-Vũng Tàu (132km), Thành phố Hồ Chí Minh-Lộc Ninh (128km), Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ-Cà Mau (320km), An Bình-Sài Gòn-Tân Kiên (33km).
Hai tuyến khu vực miền Trung gồm Vũng Áng-Mụ Giạ (105km) và Tháp Chàm-Đà Lạt (84km).
Sáu tuyến còn lại được định hướng đầu tư sau năm 2030 gồm: Đà Nẵng-Quảng Ngãi-Gia Lai-Đắk Lắk-Lâm Đồng-Đồng Nai (555km); Ninh Bình-Hưng Yên-Hải Phòng (64km); Vành đai phía Tây Hà Nội đoạn Ngọc Hồi-Thạch Lỗi (54km); Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài (61km); Mỹ Thủy-Lao Bảo (114km); Thái Nguyên-Tuyên Quang-Lào Cai (73km).
Phan Trang