Đề xuất chính sách bảo hiểm xã hội cho lao động trên nền tảng số
(Chinhphu.vn) – Trong bối cảnh các hình thức việc làm trên nền tảng số ngày càng phát triển, việc mở rộng khả năng tiếp cận chính sách bảo hiểm xã hội đối với nhóm lao động này đặt ra những yêu cầu mới trong thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện.

Đây là một trong những vấn đề được các cơ quan quản lý, chuyên gia trong nước và quốc tế, đại diện doanh nghiệp nền tảng trao đổi tại Hội thảo quốc tế “Việc làm và an sinh xã hội cho người lao động làm việc trên nền tảng số tại Việt Nam”, do BHXH Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức ngày 22/9.
Khoảng trống an sinh xã hội
Sự phát triển của kinh tế số đang làm thay đổi cách thức tổ chức việc làm, tạo thêm cơ hội thu nhập và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường lao động thông qua các ứng dụng công nghệ. Tại Việt Nam, các nền tảng trong lĩnh vực vận tải, giao nhận, thương mại điện tử và dịch vụ đang thu hút lực lượng lao động với nhiều hình thức làm việc khác nhau.
Theo ông Christopher Sheldon, Giám đốc Quản lý Danh mục Đầu tư, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào, các doanh nghiệp nền tảng tại Việt Nam được ước tính tạo cơ hội việc làm cho khoảng 2 triệu người.
Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới đối với gần 5.000 lao động trên nhiều nền tảng số tại Việt Nam cho thấy hơn 90% số người được khảo sát coi công việc trên nền tảng là nguồn thu nhập chính, trong khi chỉ khoảng 1/5 tham gia BHXH.
Khảo sát cũng ghi nhận nhu cầu được bảo vệ trước các rủi ro về sức khỏe, tai nạn, ốm đau và bảo đảm thu nhập khi về già. Nhiều người lao động sẵn sàng đóng góp vào hệ thống BHXH nếu chính sách dễ tiếp cận, linh hoạt và phù hợp hơn với đặc điểm thu nhập.
Tuy nhiên, việc mở rộng diện bao phủ BHXH đối với lao động nền tảng số đặt ra những vấn đề riêng. Người lao động có thể đồng thời làm việc trên nhiều nền tảng, chuyển đổi giữa việc làm nền tảng và việc làm truyền thống hoặc làm việc không thường xuyên; thu nhập biến động theo thời gian, khối lượng công việc và nhu cầu thị trường. Mức độ tự chủ và quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp nền tảng cũng khác nhau giữa các loại hình việc làm.
Những đặc điểm này đòi hỏi nghiên cứu, nhận diện đầy đủ các nhóm lao động nền tảng, làm rõ tính chất công việc và quan hệ giữa các chủ thể, qua đó xác định hình thức tham gia BHXH phù hợp.
Theo Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu, Luật BHXH năm 2024 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã mở rộng thêm một số nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời bổ sung các chính sách khuyến khích tham gia, tạo thêm cơ hội để nhiều nhóm lao động tiếp cận hệ thống an sinh xã hội.
Đối với người lao động trên nền tảng số cũng như các nhóm làm việc theo hình thức khoán việc, theo ngày hoặc bán thời gian có thu nhập ổn định, ông Trần Đình Liệu cho rằng cần nghiên cứu cơ chế tham gia BHXH phù hợp với đặc điểm việc làm, thu nhập và quan hệ lao động.
Nghiên cứu thiết kế chính sách và xác định trách nhiệm
Từ thực tiễn thị trường lao động, các tham luận tại hội thảo tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý và thực tiễn đối với chính sách BHXH dành cho người lao động trên nền tảng số.
Một trong những vấn đề được đặt ra là xác định hình thức tham gia BHXH trên cơ sở bản chất quan hệ lao động, đặc điểm công việc và quy định pháp luật áp dụng đối với từng nhóm. Cùng với đó là nghiên cứu mức đóng, phương thức đóng và trách nhiệm đóng góp của các bên đối với những người có thu nhập biến động, thời gian làm việc linh hoạt hoặc đồng thời tham gia nhiều nền tảng.
Việc người lao động chuyển đổi giữa các hình thức việc làm cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm tính liên tục của quá trình tham gia và quyền lợi an sinh xã hội. Kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại hội thảo là cơ sở tham khảo để Việt Nam nghiên cứu khả năng vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Một số hướng tiếp cận được đề xuất nghiên cứu gồm thiết kế mức đóng, phương thức đóng linh hoạt theo thu nhập và tần suất làm việc; bảo đảm tính liên tục của quá trình tham gia khi người lao động chuyển đổi việc làm; nghiên cứu cơ chế chia sẻ trách nhiệm đóng góp giữa người lao động, doanh nghiệp nền tảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số và khai thác dữ liệu phù hợp từ các nền tảng có thể được nghiên cứu để hỗ trợ nhận diện đối tượng, xác định thu nhập, tính mức đóng và tạo thuận lợi cho người lao động tham gia các chương trình an sinh xã hội.
Đây là những kinh nghiệm và gợi mở cần tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá về cơ sở pháp lý, tính khả thi và mức độ phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.
Thu Cúc