In bài viết

Đề xuất mới trong quy định hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

(Chinhphu.vn) - Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 158/2025/TT-BTC ngày 31/12/2025 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 360/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB).

12/08/2026 15:45
Đề xuất mới trong quy định hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt- Ảnh 1.

Đề xuất mới trong quy định hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Bộ Tài chính cho biết, trong thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu, một số doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB tại Việt Nam bán sản phẩm cho các doanh nghiệp phân phối trong nước có hệ thống bán hàng toàn cầu, để các doanh nghiệp này tiếp tục thực hiện xuất khẩu ra thị trường nước ngoài tiêu thụ. Mặc dù giao dịch giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối được xác lập dưới hình thức mua bán hàng hóa trong nước, nhưng mục đích là phục vụ xuất khẩu, không tiêu thụ nội địa.

Theo quy định hiện hành, hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc trực tiếp bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu đều thuộc đối tượng không chịu thuế TTĐB. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 158/2025/TT-BTC, việc chuẩn bị hồ sơ chứng minh hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế TTĐB đang phát sinh một số bất cập như sau:

Đối với bộ hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế TTĐB, cơ quan quản lý thuế có thể yêu cầu: (1) Biên bản thanh lý hợp đồng mua bán hàng hoá để xuất khẩu; (2) Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của người mua nước ngoài cho tổ chức, cá nhân xuất khẩu theo biên bản thanh lý hợp đồng.

Tại thời điểm doanh nghiệp sản xuất bàn giao hàng hóa cho doanh nghiệp phân phối, nghĩa vụ thanh toán giữa các bên trong nhiều trường hợp được thực hiện theo tiến độ, chia thành nhiều đợt thanh toán khác nhau, kéo dài qua nhiều kỳ. Do đó, hai bên chưa đủ điều kiện để lập biên bản thanh lý hợp đồng cho đến khi hoàn tất toàn bộ việc bàn giao hàng hóa và thanh toán theo hợp đồng. Trong khi đó, nghĩa vụ kê khai, xác định đối tượng không chịu thuế TTĐB lại phát sinh gắn với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dẫn đến việc doanh nghiệp không có đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định.

Ngoài ra, doanh nghiệp sản xuất không phải là bên trực tiếp thực hiện hoạt động xuất khẩu và không có quan hệ hợp đồng trực tiếp với bên mua nước ngoài, do đó không có cơ sở pháp lý để yêu cầu bên thứ ba này cung cấp chứng từ thanh toán phục vụ việc hoàn thiện hồ sơ không chịu thuế TTĐB của mình.

Do đó, việc sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế đối với hàng hóa do tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công, thuê gia công bán hoặc ủy thác cho tổ chức, cá nhân kinh doanh khác để xuất khẩu ra nước ngoài về biên bản thanh lý hợp đồng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của người mua nước ngoài cho tổ chức, cá nhân xuất khẩu là cần thiết và cấp thiết để đảm bảo không xảy ra vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định của Luật Thuế TTĐB và kịp thời hỗ trợ, thúc đẩy xuất khẩu trong những tháng cuối năm, góp phần tăng trưởng kinh tế năm 2026 và các năm tiếp theo.

Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 158/2025/TT-BTC ngày 31/12/2025 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 360/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:

Đối với hàng hóa do tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công, thuê gia công bán hoặc ủy thác cho tổ chức, cá nhân kinh doanh khác để xuất khẩu ra nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 360/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân phải có hồ sơ như sau:

a) Hợp đồng mua bán hàng hóa để xuất khẩu hoặc hợp đồng ủy thác xuất khẩu. b) Hóa đơn bán hàng, giao hàng ủy thác xuất khẩu.

c) Biên bản thanh lý (thanh lý toàn bộ hoặc từng phần) hợp đồng mua bán hàng hoá để xuất khẩu, hợp đồng ủy thác xuất khẩu thể hiện rõ các nội dung sau: Tên, số lượng, chủng loại, mặt hàng, giá bán của hàng hóa đã thực tế xuất khẩu; hình thức thanh toán; số tiền và số, ngày chứng từ thanh toán hàng hóa xuất khẩu không dùng tiền mặt của người mua nước ngoài cho tổ chức, cá nhân xuất khẩu; số tiền và số, ngày của chứng từ thanh toán giữa tổ chức, cá nhân sản xuất với tổ chức, cá nhân xuất khẩu hoặc tổ chức, cá nhân nhận ủy thác xuất khẩu; số, ngày của hợp đồng xuất khẩu, tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; trừ trường hợp tại thời điểm cơ quan nhà nước yêu cầu, người nộp thuế chưa có biên bản thanh lý hợp đồng và chứng từ thanh toán hàng hoá xuất khẩu không dùng tiền mặt của người mua nước ngoài do chưa hoàn tất toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng và phụ lục hợp đồng (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Đối với hàng hóa cơ sở xuất khẩu mua, được ủy thác xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước, tổ chức, cá nhân có hàng hoá xuất khẩu phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hóa này khi tiêu thụ (bán) trong nước.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây./.