
Bộ Tài chính đề xuất quy định mới về đầu tư ra nước ngoài
Bộ Tài chính cho biết, hoạt động đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định của Luật đầu tư năm 2020 và Nghị định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ. Qua quá trình thực hiện đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Cụ thể là:
Chưa có đối tượng đầu tư ra nước ngoài là các Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Chưa có quy định về thời điểm, căn cứ xác định vốn đầu tư ra nước ngoài bằng Việt Nam đồng để làm căn cứ xác định loại dự án, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (GCNĐKĐTRNN).
Chưa có quy định về nguồn vốn đầu tư ra nước bằng hình thức hoán đổi khoản nợ, gây vướng mắc trong quá trình thực tế triển khai.
Chưa có quy định về đầu tư bằng hàng hóa, máy móc thiết bị được mua từ nước khác để chuyển sang nước tiếp nhận đầu tư để góp vốn.
Chưa có quy định về Quyết định đầu tư ra nước ngoài đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp FDI, nhà đầu tư cá nhân.
Đơn giản hóa thành phần hồ sơ cấp GCNĐKĐTRNN, bỏ thành phần hồ sơ không cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư.
Sửa đổi các quy định về chuyển tiền ra nước ngoài, chuyển lợi nhuận về nước để tháo gỡ các vướng mắc thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện nghị định 31/2021/NĐ-CP.
Bổ sung quy định về công tác quản lý nhà nước, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương để phù hợp với quy định mới của Luật đầu tư.
Việc quy định về đầu tư ra nước ngoài chung với các quy định về đầu tư tại Việt Nam gây khó khăn trong việc tra cứu, thực hiện pháp luật.
Bộ Tài chính đã dự thảo Nghị định quy định về đầu tư ra nước ngoài gồm 5 chương với 43 điều. Dự thảo Nghị định kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật đầu tư năm 2020 và Nghị định 31/2021/NĐ-CP, đồng thời bổ sung các quy định mới quy định tại Luật đầu tư 2025 và chỉnh sửa, bổ sung các nội dung còn thiếu, nội dung chưa phù hợp của Nghị định 31/2021/NĐ-CP. Các nội dung mới cụ thể như sau:
Bổ sung thêm quy định về căn cứ và thời điểm xác định tỷ giá để tính vốn đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) tương đương bằng đồng Việt Nam để giải quyết vướng mắc của một số dự án về giá trị vốn ĐTRNN bằng đồng Việt Nam khi lập hồ sơ không thuộc diện Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận nhưng khi trình cấp tính theo tỷ giá hiện tại thì thuộc diện Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận (Khoản 5, Điều 5).
Bổ sung thêm quy định về nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài gồm "Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam" để giải quyết vướng mắc thời gian qua khi một số quỹ đầu tư đăng ký đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhưng chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động đầu tư (khoản 6, Điều 4).
Bổ sung thêm quy định về việc nhà đầu tư có thể hoán đổi vốn với đối tác ở nước ngoài để góp vốn đầu tư, thanh toán các nghĩa vụ tài chính liên quan hoặc hoán đổi cho việc mua cổ phần, phần vốn góp của dự án đầu tư của tổ chức kinh tế ở nước ngoài (khoản 4, Điều 5).
Về loại dự án thuộc diện cấp GCNĐKĐTRNN: Dự án có vốn ĐTRNN từ 20 tỷ đồng trở lên thì phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐTRNN trước khi chuyển vốn ĐTRNN theo quy định về quản lý ngoại hối.
Bộ Tài chính cho biết lý do đề xuất mức vốn 20 tỷ: theo quy định của Luật Đầu tư 2020 và Nghị định 31/2021/NĐ-CP thì dự án ĐTRNN có mức vốn nhỏ hơn 20 tỷ đồng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) tự quyết định việc cấp GCNĐKĐTRNN mà không cần xin ý kiến các cơ quan liên quan. Do đó, dự án có vốn ĐTRNN dưới mức vốn này không phải cấp GCNĐKĐTRNN để cải cách thủ tục hành chính về ĐTRNN nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được các dự án có quy mô lớn.
Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng nên để mức vốn tối thiểu để cấp GCNĐKĐTRNN nhỏ hơn mức 20 tỷ để hạn chế các nhà đầu tư lợi dụng hoạt động ĐTRNN để thực hiện các mục đích khác như mua nhà, định cư, xin visa,…
Loại dự án thuộc diện báo cáo Thủ tướng CP xem xét, chấp thuận trước khi cấp GCNĐT: dự án có vốn ĐTRNN từ 1600 tỷ đồng trở lên hoặc có đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt.
Bộ Tài chính cho biết, theo quy định của Luật đầu tư 2020 mức dự án ĐTRNN thuộc diện chấp thuận chủ trương của TTg là 800 tỷ đồng. Đề xuất mức 1.600 tỷ (gấp 2 lần mức cũ 800 tỷ) để thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giảm phạm vi loại dự án phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, tại dự thảo, Bộ Tài chính cũng đề xuất quy định về loại dự án không phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐTRNN theo quy định tại khoản 3, Điều 42 Luật Đầu tư. Gồm các dự án sau đây:
Dự án có mức vốn ĐTRNN nhỏ hơn 20 tỷ đồng (Phương án 1) hoặc nhỏ hơn 7 tỷ đồng (Phương án 2) (điểm a, khoản 3, Điều 42 Luật Đầu tư).
Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước (điểm b, khoản 3, Điều 42 Luật đầu tư).
Dự án của Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước (điểm c, Khoản 3, Điều 42 Luật đầu tư): đối với các dự án này, thẩm quyền quyết định đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Sau khi có quyết định đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư thông báo với Bộ Tài chính và thực hiện đăng ký với Ngân hàng nhà nước để chuyển tiền ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tổ chức kinh tế đáp ứng các điều kiện sau:
Phương án 1:
+ Doanh nghiệp có quy mô lớn theo quy định tại Nghị định số 90/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2012 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập;
+ Không sử dụng vốn vay để đầu tư ra nước ngoài;
+ Hoạt động kinh doanh có lãi trong 3 năm liên tiếp;
+ Đã có ít nhất 2 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và có lợi nhuận chuyển về nước;
+ Đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
Phương án 2:
+ Doanh nghiệp có quy mô lớn theo quy định tại Nghị định số 90/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2012 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập;
+ Không sử dụng vốn vay để đầu tư ra nước ngoài;
+ Đã có ít nhất 2 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và đang hoạt động.
+ Đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
Bộ Tài chính cho biết quy định nêu trên để cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp quy mô lớn, kinh doanh hiệu quả và đã có kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài thành công, theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 42 Luật đầu tư.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất quy định về thành phần hồ sơ: bỏ văn bản cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với dự án không thuộc diện Thủ tướng xem xét, chấp thuận. Lý do nhằm giảm bớt thành phần hồ sơ, đan giản hóa thủ tục cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm thu xếp nguồn vốn ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài.
Bổ sung quy trình cấp, điều chỉnh GCNĐTĐTRNN trực tuyến toàn trình (Điều 27, 28) để cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.
Điều chỉnh quy định về việc chuyển lợi nhuận về nước không theo báo cáo quyết toán thuế mà theo thời điểm nhà đầu tư được chia lợi nhuận (Điều 32) để giải quyết vướng mắc của một số nhà đầu tư về chuyển lợi nhuận về nước do Tổ chức kinh tế ở nước ngoài đã có báo cáo quyết toán thuế nhưng nhà đầu tư chưa được chia lợi nhuận nên không thể chuyển lợi nhuận về nước theo đúng thời hạn quy định.
Bộ Tài chính cũng đề xuất điều khoản chuyển tiếp (Điều 41): đối với hồ sơ dự án đã tiếp nhận theo quy định của Luật đầu tư 2020 mà chưa được cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài nhưng theo quy định của Nghị định này không thuộc diện phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thì nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký chuyển vốn ra nước theo quy định về quản lý ngoại hối mà không cần có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.
Theo Bộ Tài chính, việc quy định chuyển tiếp nêu trên để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các dự án không thuộc diện cấp GCNĐKĐTRNN và phù hợp với quy định mới của Luật đầu tư 2025.
Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây./.