In bài viết

Điều tra khí tượng thủy văn, môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế biển

Việt Nam với trên 3.260 km bờ biển, hơn 3000 đảo và vùng biển rộng lớn, mạng lưới trạm khí tượng hải văn gồm 17 trạm, trong đó 10 trạm trên đảo, 1 trạm trên dàn nổi DK1 - 7 và 6 trạm ven bờ. Bộ số liệu quan trắc của mạng lưới trạm này đã đóng góp hiệu quả cho các chương trình nghiên cứu về biển, sự nghiệp phát triển kinh tế biển.

28/02/2011 19:02

TS. Trần Hồng Lam, Trung tâm Hải văn (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam) cho biết: Công tác điều tra khảo sát khí tượng, thủy văn và môi trường biển đã được thực hiện theo quy định, khối lượng số liệu lớn, có tính hệ thống khá đồng bộ về đặc trưng phân bố các yếu tố khí tượng, thủy văn, môi trường biển cho hai mùa đông và mùa hè trên phạm vi toàn vùng thềm lục địa. Các kết quả này đã phục vụ thiết thực cho các ngành khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế biển, góp phần tích cực cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển.

Tuy nhiên, công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và phục vụ khí tượng thủy văn và môi trường biển giai đoạn 2010 - 2020 cần tập trung hoàn thiện mạng lưới quan trắc tổng hợp khí tượng thủy văn và môi trường biển cố định ven bờ, hải đảo với 30 trạm. Trong đó lồng ghép, nâng cấp 13 trạm khí tượng hải văn đang hoạt động thành trạm quan trắc tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, xây dựng mới 16 trạm và 1 trạm trung tâm thu số liệu tại Hà Nội. Tự động hóa mạng lưới quan trắc tổng hợp tài nguyên môi trường biển ven bờ, hải đảo và đường truyền thông tin tự động.

Các đơn vị chuyên môn cũng thực hiện điều tra khảo sát các yếu tố khí tượng thủy văn và môi trường biển theo chương trình 4 chuyến/năm tại các vùng biển thuộc thềm lục địa Việt Nam kết hợp với các chuyến điều tra ven bờ và hải đảo bằng tàu, thuyền nhỏ có độ sâu dưới 10 m nước.

Bên cạnh đó, Bộ cần sớm hình thành tổ chức quản lý tập trung về cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển, nhanh chóng hoàn thành Dự án xây dựng thống nhất về cơ sở dữ liệu biển quốc gia theo mô hình tập trung và phi tập trung. Ngành cũng cần có chính sáchrõ ràng và thống nhất về điều tra xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu biển, tổ chức đầu mối quản lý, phân phối thông tin tài nguyên môi trường để hướng đến xem dữ liệu biển là một phần trong xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, đáp ứng nhu cầu thị trường, hướng đến khách hàng quan trọng.

Nguyễn Hồng Điệp