In bài viết

Doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, vượt khó, sẵn sàng bứt phá khi thị trường phục hồi

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp do căng thẳng địa chính trị gia tăng, đối với các doanh nghiệp, đây là lúc cần quản trị dòng tiền chặt chẽ, kiểm soát tồn kho và duy trì công suất sản xuất. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động cắt giảm chi phí, tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ.

26/03/2026 15:15
Doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, vượt khó, sẵn sàng bứt phá khi thị trường phục hồi- Ảnh 1.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 lần thứ I do Báo Người Lao động tổ chức ngày 26/3 - Ảnh: VGP/Hoàng Triều

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026 lần thứ I với chủ đề: "Doanh nghiệp trước cú sốc địa chính trị toàn cầu: Ứng phó thế nào?" do Báo Người Lao động tổ chức ngày 26/3, giúp doanh nghiệp tham chiếu các giải pháp ứng phó cụ thể.

Việt Nam có "đề kháng" rất tốt

Chia sẻ tại diễn đàn, TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TPHCM cho biết, Việt Nam có khả năng "đề kháng" và chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài; đây không phải là nhận định cảm tính. Thực tế đã được kiểm chứng qua hai giai đoạn lớn là khủng hoảng kinh tế 2008–2009 và giai đoạn COVID-19 (2021–2022), khi nền kinh tế vẫn duy trì được độ ổn định tương đối, dù bối cảnh hiện nay có nhiều khác biệt.

Theo TS. Trần Du Lịch, trước hết, khó khăn của kinh tế toàn cầu không chỉ xuất hiện khi xung đột Trung Đông bùng phát. Ngay từ đầu năm, giai đoạn 2023–2026 đã được dự báo là thời kỳ tăng trưởng chậm lại, đi kèm với rủi ro địa chính trị gia tăng. Thị trường tài chính quốc tế cũng chưa ổn định, thể hiện qua áp lực tỉ giá, lạm phát và cạnh tranh giữa các đồng tiền – những yếu tố đã manh nha từ sớm.

Ở trong nước, nền kinh tế cũng đối mặt nhiều thách thức. Sự suy giảm của thị trường khiến đơn hàng có xu hướng ngắn hạn, quy mô nhỏ, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, biến động năng lượng gần đây càng làm chi phí logistics leo thang, trong khi Việt Nam vốn là quốc gia có chi phí logistics thuộc nhóm cao trong khu vực.

"Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm từ các giai đoạn khủng hoảng trước cho thấy đây là lúc cần quản trị dòng tiền chặt chẽ, kiểm soát tồn kho và duy trì công suất sản xuất. Quan trọng là giữ khách hàng, bảo toàn chuỗi cung ứng, không bỏ qua đơn hàng, kể cả nhỏ. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động cắt giảm chi phí, tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ. Doanh nghiệp giữ được nền tảng và lao động sẽ có khả năng phục hồi nhanh hơn khi thị trường cải thiện", TS. Trần Du Lịch chia sẻ.

Về phía Nhà nước, cần tiếp tục tháo gỡ về thuế, phí để hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là khu vực vừa và nhỏ. Quan trọng hơn, phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô – đặc biệt là tỉ giá, lãi suất và thanh khoản.

Doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, vượt khó, sẵn sàng bứt phá khi thị trường phục hồi- Ảnh 2.

TS. Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TPHCM cho biết, Việt Nam có khả năng “đề kháng” và chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài - Ảnh: VGP/Hoàng Triều

TS. Trần Du Lịch nhấn mạnh, sau COVID-19, "cái bất biến" mà Việt Nam có được chính là sự ổn định vĩ mô, và đây là yếu tố đang tiếp tục được giữ vững để định hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Đi vào các giải pháp cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp, PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Trường Đại học Sài Gòn, cho rằng Nhà nước cần sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính như miễn, giảm thuế, phí để bình ổn giá, nhằm trực tiếp chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.

Đồng thời, các cơ quan chức năng, quản lý thị trường cần tăng cường chống buôn lậu, đầu cơ và tình trạng "tát nước theo mưa", qua đó bảo vệ người tiêu dùng và môi trường kinh doanh.

Về chính sách tài khóa, PGS.TS. Trần Hoàng Ngân ủng hộ quan điểm nới lỏng trong bối cảnh nợ công đang được kiểm soát ở mức khoảng 37% GDP. Tuy nhiên, việc nới lỏng cần đi kèm nguyên tắc chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí, nhằm tập trung nguồn lực cho đầu tư công, đặc biệt là ba lĩnh vực hạ tầng chiến lược: Giao thông, năng lượng và công nghệ. Theo ông, việc hoàn thiện hạ tầng giao thông sẽ góp phần giảm chi phí vận tải và tiêu thụ xăng dầu cho doanh nghiệp.

Về chính sách tiền tệ, PGS.TS. Trần Hoàng Ngân kiến nghị cần bảo đảm đồng thời các mục tiêu: Kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng và giữ an toàn hệ thống. Trong đó, cần ưu tiên bảo đảm thanh khoản và ổn định lãi suất, bởi lạm phát hiện nay chủ yếu đến từ yếu tố "chi phí đẩy" như giá năng lượng và xung đột địa chính trị, không phải do cung tiền. Do đó, cần tránh để lãi suất tăng cao nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và duy trì việc làm.

Về dài hạn, PGS.TS. Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh ba trụ cột chuyển đổi mang tính bắt buộc gồm: Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

DN tối ưu hóa chi phí để vượt qua khó khăn

Theo phản ánh từ nhiều hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp (DN) vẫn nhận được đơn hàng từ đối tác, nhiều ngành hàng vẫn tăng trưởng nhẹ. Tuy nhiên, các DN đang phải đối mặt với chi phí đầu vào tăng cao. Những bất ổn tại Trung Đông đã đẩy giá vận chuyển (logistics) và nguyên vật liệu tăng đột biến, gây áp lực lớn lên chi phí.

Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) cho rằng DN trước hết cần hiểu rõ thị trường để thích ứng phù hợp. Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, việc nỗ lực xoay xở để tồn tại là điều tất yếu. Theo đó, DN phải tìm mọi cách cắt giảm chi phí, đồng thời vẫn duy trì đầu tư, thậm chí chấp nhận không có lãi trong ngắn hạn để chuẩn bị cho chu kỳ phát triển tiếp theo. Có thể chỉ đạt mức hòa vốn, nhưng cần mạnh dạn đầu tư vào chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các tiêu chuẩn mới của thị trường để hướng tới phát triển bền vững.

Kịch bản ngắn hạn cho thấy từ tháng 4 có thể xuất hiện những chuyển biến; dù vậy, vẫn cần chuẩn bị cho khả năng khó khăn kéo dài đến hết quý II/2026. Nếu diễn biến đúng như kỳ vọng, kinh tế toàn cầu có thể dần trở lại trạng thái bình thường.

Theo Chủ tịch HUBA, cộng đồng DN nhìn nhận quý II năm nay giống như khoảng "giải lao giữa hai hiệp" của một trận bóng, khi các "huấn luyện viên" sẽ đưa ra điều chỉnh chiến thuật để bước vào hiệp tiếp theo hiệu quả hơn. Trong khoảng thời gian này, cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể tăng tốc, với kỳ vọng từ quý III sẽ bứt phá.

Trong quá trình chuẩn bị đó, DN buộc phải nâng cao năng lực xoay xở và điều chỉnh cách ứng phó. Việc tái cơ cấu cần diễn ra đồng thời ở cả đầu vào và đầu ra: Đầu vào phải được tối ưu để giảm chi phí; trong khi đầu ra cần đa dạng hóa thị trường nhằm tránh phụ thuộc.

Bên cạnh nỗ lực tự thân, Chủ tịch HUBA cho rằng cần có sự vào cuộc mạnh mẽ từ cơ quan quản lý. Khi doanh nghiệp tự xoay xở, họ vẫn bị giới hạn về nguồn lực và thị trường, trong khi quá trình tái cơ cấu còn chịu nhiều ràng buộc từ yếu tố bên ngoài và chi phí phát sinh. Vì vậy, cần có những điều chỉnh chính sách nhằm tháo gỡ rào cản, tạo dư địa hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Ông Hòa nêu dẫn chứng, với định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM, đây được kỳ vọng là kênh huy động vốn hiệu quả, góp phần giảm lãi suất. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này, cần có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút dòng vốn, kể cả việc mạnh dạn áp dụng các mô hình thử nghiệm như sandbox.

"Khi hình thành sàn giao dịch hàng hóa trong khuôn khổ trung tâm tài chính, chi phí giao dịch có thể được rút ngắn và tối ưu hơn. Những cơ chế, chính sách và mô hình thử nghiệm như vậy sẽ góp phần "tiếp sức" cho doanh nghiệp, đồng thời mở ra cơ hội mới", ông Hòa chia sẻ.

Chủ tịch HUBA cũng đề cập đến việc phát huy các nguồn lực sẵn có nhưng đang bị kìm nén, như quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài và tạo động lực mới cho thị trường. Theo ông, cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn để giải phóng nguồn lực nhà nước, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia.

Doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí, vượt khó, sẵn sàng bứt phá khi thị trường phục hồi- Ảnh 3.

Chủ tịch HUBA Nguyễn Ngọc Hòa cho biết, trong bối cảnh hiện nay, DN cần tối ưu hóa chi phí để vượt qua khó khăn - Ảnh: VGP/Hoàng Triều

Nhiều giải pháp đa dạng hóa thị trường

Với câu chuyện đa dạng hóa thị trường, bà Nguyễn Cẩm Trang, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, thời gian qua, Bộ đã triển khai nhiều biện pháp, từ tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) đến đàm phán, ký kết các hiệp định mới với các thị trường tiềm năng.

Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, cùng với sự hỗ trợ của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài trong việc kết nối DN với đối tác quốc tế. Ở chiều ngược lại, các tham tán thương mại cũng tổ chức đưa DN nước ngoài vào Việt Nam để tăng cường giao thương trực tiếp.

Một nội dung quan trọng khác là cung cấp thông tin thị trường. Bộ Công Thương đã khai trương nền tảng số về thị trường nước ngoài, giúp DN tiếp cận thông tin cụ thể, chi tiết và kịp thời.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Cẩm Trang cho biết, đa dạng hóa thị trường không chỉ dừng ở xuất khẩu mà còn phải chú trọng nhập khẩu. Việc chủ động xây dựng phương án thị trường thay thế sẽ giúp giảm rủi ro đứt gãy nguồn cung, đồng thời góp phần cân bằng cán cân thương mại.

Hiện cơ quan quản lý đang nghiên cứu xây dựng bản đồ nguồn cung, hệ thống hóa các nhà cung cấp đối với mặt hàng chủ lực từ nhiều quốc gia khác nhau, nhằm giúp doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung, tránh phụ thuộc vào một số thị trường nhất định.

Ở trong nước, các hiệp hội ngành hàng như dệt may, da giày, đồ gỗ cũng đang phối hợp xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn nguyên liệu nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Lê Anh