In bài viết

Đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước

(Chinhphu.vn) – Tại phiên họp thứ 6 diễn ra vào chiều 24/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

24/09/2026 16:29
Đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước- Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình về dự án Luật

Việc xây dựng và ban hành Luật là đòi hỏi cấp bách

Tại phiên họp, trình bày Tờ trình về dự án luật, sau khi phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nêu rõ: Việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Luật được xây dựng nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.

Luật được xây dựng trên quan điểm: Tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược, không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính mang tính quản lý; không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định.

Ưu tiên làm rõ những "điểm mờ", bổ sung quy định cho những "khoảng trống" pháp lý mà các luật chuyên ngành chưa điều chỉnh hoặc chưa rõ, chưa có; lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm những "điểm nghẽn" đã nhận định rõ để đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội; xác định rõ phạm vi, đối tượng, điều kiện áp dụng, cơ chế kiểm soát và nguyên tắc áp dụng.

Luật quy định nguyên tắc, những vấn đề mang tính nội hàm chính sách, giao Chính phủ quy định chi tiết những vấn đề về quy trình thủ tục và tăng cường phân cấp cho địa phương.

Dự thảo luật gồm 9 chương với 53 điều, tập trung giải quyết những vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, thông qua 6 nhóm nội dung là: Phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực công nghiệp văn hóa; hạ tầng công nghiệp văn hóa; thị trường công nghiệp văn hóa; tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.

Rà soát, xác định rõ đối tượng áp dụng

Thẩm tra về dự án luật, Thường trực Ủy ban Văn hoá và Xã hội tán thành sự cần thiết ban hành Luật. Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, phù hợp với Hiến pháp; cơ bản bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan.

Tuy nhiên, đây là dự án Luật được xây dựng mới, xác lập nhiều nội dung, cơ chế, chính sách đặc thù. Thường trực Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; tuân thủ nguyên tắc: Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc thẩm quyền của Quốc hội; không quy định lại những chính sách đã được các luật chuyên ngành, luật khác quy định; đánh giá cụ thể hơn tác động, tính khả thi của các quy định, chính sách mới; các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.

Tiếp tục rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp. Những nội dung có phạm vi điều chỉnh trong cả nước, có yếu tố quốc tế cần giao Chính phủ và các bộ quy định; chỉ phân quyền, phân cấp cho địa phương các nội dung phù hợp, khả thi.

Thường trực Ủy ban cũng cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo Luật; đề nghị tiếp tục rà soát, xác định rõ đối tượng áp dụng trong nước và ngoài nước, nhất là các chủ thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa vào thị trường Việt Nam, hoạt động qua nền tảng số xuyên biên giới hoặc khai thác "tài sản trí tuệ" thuộc phạm vi bảo hộ tại Việt Nam.

Về phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, Thường trực Ủy ban cơ bản nhất trí với các quy định về hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, Bộ công cụ sáng tạo, thử nghiệm có kiểm soát; đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, trong đó lưu ý: Quy định về thử nghiệm có kiểm soát (tại Điều 10) là vấn đề mới; đề nghị chỉnh lý theo hướng giao Chính phủ quy định, trừ các trường hợp đã được quy định tại Luật Thủ đô và Luật Phát triển đô thị; dẫn chiếu khái niệm, nguyên tắc, tổ chức, thời gian, miễn trừ trách nhiệm theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật, đồng thời rà soát thẩm quyền cho phép thử nghiệm giữa khoản 9 Điều 2 và khoản 5 Điều 10 dự thảo Luật.

Về tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa (Điều 11 đến Điều 15), Thường trực Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu: Không định nghĩa khái niệm tài sản trí tuệ trong dự thảo Luật để tránh mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Sở hữu trí tuệ; chỉnh lý theo hướng dẫn chiếu, áp dụng nội dung đã được các luật liên quan quy định, chỉ bổ sung quy định mới, đặc thù trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Về phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa (Điều 16 đến Điều 20), Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các chính sách phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa; đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, tránh trùng lặp với Luật Giáo dục, Luật Nhà giáo và pháp luật có liên quan, bảo đảm thống nhất. Đồng thời rà soát khái niệm nhân tài, nhân lực chất lượng cao, nhà giáo cơ hữu; thiết kế các quy định mang tính linh hoạt; tập trung chính sách cho nhân lực trực tiếp sáng tạo...

Về hạ tầng công nghiệp văn hóa (Điều 21 đến Điều 28), Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các quy định về hạ tầng công nghiệp văn hóa, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý một số nội dung: Rà soát, chỉnh lý để thống nhất về trình tự, thủ tục áp dụng pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan đến thành lập, công nhận cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa (Điều 23). Làm rõ sự cần thiết quy định nội dung đánh giá hiệu quả hạ tầng công nghiệp văn hóa (Điều 25), làm rõ tiêu chí, điều kiện, cơ chế kiểm soát, phòng ngừa rủi ro đối với các chính sách mới, ưu đãi từ ngân sách nhà nước. Làm rõ việc giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa (Điều 26), bảo đảm thống nhất với Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ...

Về tài chính, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư (Điều 37 đến Điều 48), Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các chính sách về tài chính, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa; đề nghị lưu ý một số nội dung: Hợp nhất quy định về nguồn tài chính từ ngân sách, quỹ nhà nước và quỹ tư nhân (Điều 37, Điều 38, Điều 39). Làm rõ phạm vi hỗ trợ, cơ chế miễn trừ trách nhiệm của chính sách đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghiệp văn hóa (Điều 40). Xác định rõ dự án đầu tư trong phát triển công nghiệp văn hóa cần ưu tiên thu hút đầu tư. Rà soát, làm rõ cơ sở pháp lý, phạm vi đối tượng thụ hưởng của các chính sách hỗ trợ về thuế, tài chính. Cân nhắc chuyển nội dung sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chính sách về thuế sang các luật về thuế để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, bảo đảm khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Nguyễn Hoàng