In bài viết

Đưa tôm hùm thành mặt hàng 'tỷ đô'

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển dịch từ khai thác sang nuôi trồng bền vững, Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển (nuôi biển) đã trở thành kim chỉ nam quan trọng. Với những mục tiêu chiến lược và kết quả tăng trưởng đột phá của các mặt hàng chủ lực như tôm hùm, ngành nuôi biển đang dần khẳng định vị thế là một trụ cột của kinh tế biển Việt Nam.

07/07/2026 14:46
Đưa tôm hùm thành mặt hàng 'tỷ đô'- Ảnh 1.

Trong cơ cấu các mặt hàng nuôi biển, tôm hùm đang nổi lên như một động lực tăng trưởng chính - Ảnh minh họa

Tầm nhìn chiến lược và mục tiêu đột phá đến năm 2030

Ngày 04/10/2021, Chính phủ đã ban hành Quyết định 1664/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này đặt ra quan điểm phát triển nuôi biển thành một ngành sản xuất hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp, đồng bộ và bền vững.

Theo nội dung Đề án, mục tiêu đến năm 2025, diện tích nuôi biển nước ta đạt 280.000 ha với sản lượng 850.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 0,8 - 1,0 tỷ USD. Bước sang giai đoạn 2030, các con số này sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với diện tích 300.000 ha, sản lượng đạt 1,45 triệu tấn và giá trị xuất khẩu vươn tới ngưỡng 1,8 - 2,0 tỷ USD.

Đặc biệt, tầm nhìn đến năm 2045 kỳ vọng ngành công nghiệp nuôi biển Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến với phương thức quản lý hiện đại, đóng góp trên 25% tổng sản lượng ngành thủy sản và giá trị xuất khẩu vượt mốc 4 tỷ USD. Để hiện thực hóa điều này, Chính phủ ưu tiên phát triển các đối tượng có lợi thế cạnh tranh như nhóm cá biển, giáp xác (tôm hùm), nhuyễn thể và rong tảo biển.

Trong cơ cấu các mặt hàng nuôi biển, tôm hùm đang nổi lên như một động lực tăng trưởng chính. Theo báo cáo từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc đã đạt hơn 506 triệu USD, tăng trưởng ấn tượng 44,3% so với cùng kỳ năm 2025. Mặt hàng này hiện chiếm tới 71% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm sang thị trường tỷ dân này.

Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký VASEP, nhận định: "Nhu cầu thực phẩm thủy sản tươi sống ở thị trường Trung Quốc đang rất lớn, nhất là với các loại hải sản cao cấp. Xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc trong năm 2026 hoàn toàn có thể chạm mốc 1 tỷ USD".

Sự tăng trưởng này không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình tích lũy từ năm 2025, khi xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc lập kỷ lục 845 triệu USD. Việt Nam hiện có lợi thế rất lớn so với các đối thủ như Canada, Mỹ hay Australia nhờ vị trí địa lý giáp biên giới, giúp việc vận chuyển tôm hùm tươi sống diễn ra nhanh chóng và linh hoạt. Đặc biệt, tôm hùm xanh của Việt Nam với kích cỡ phù hợp và giá thành cạnh tranh đang là lựa chọn ưu tiên của các nhà hàng, khách sạn tại Trung Quốc.

Đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ cao làm đòn bẩy

Để duy trì đà tăng trưởng bền vững, Quyết định 1664/QĐ-TTg đã xác định khoa học công nghệ là cơ sở đột phá. Đề án chú trọng vào việc phát triển hệ thống lồng bè bằng vật liệu mới chịu được sóng to gió lớn, hệ thống giám sát môi trường tự động và công nghệ nuôi xa bờ quy mô công nghiệp.

Chính phủ cũng đã phê duyệt danh mục các dự án ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nuôi biển. Trong giai đoạn 2021-2025, các dự án thí điểm nuôi biển quy mô công nghiệp đã được triển khai tại Quảng Ninh, Phú Yên, Ninh Thuận và Kiên Giang với tổng nhu cầu kinh phí lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Các vùng nuôi biển tập trung xa bờ cũng được quy hoạch rõ nét tại các tỉnh trọng điểm từ Hải Phòng đến Kiên Giang nhằm tạo không gian phát triển mới, giảm áp lực cho vùng nuôi gần bờ.

Bên cạnh hạ tầng, vấn đề con giống và thức ăn cũng được đặt lên hàng đầu. Đề án đặt mục tiêu xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, sản xuất giống các đối tượng giá trị cao như cá mú, tôm hùm, nhuyễn thể... đồng thời xây dựng các khu sản xuất thức ăn tập trung gắn với khu dịch vụ hậu cần nghề cá.

Một trong những giải pháp then chốt được Đề án đề cập là tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Trong đó, doanh nghiệp được xác định là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò hạt nhân liên kết các hộ nuôi nhỏ lẻ thành các Tổ hợp tác, Hợp tác xã nhằm tăng sức cạnh tranh và đảm bảo an toàn môi trường.

Sự liên kết này không chỉ dừng lại trong ngành thủy sản mà còn mở rộng sang các ngành kinh tế khác trên biển. Quyết định 1664/QĐ-TTg khuyến khích mô hình kết hợp nuôi biển với du lịch sinh thái, điện gió và dầu khí để tối ưu hóa nguồn tài nguyên biển. Chẳng hạn, các tỉnh như Quảng Ninh, Hải Phòng đang tích cực xây dựng trung tâm nuôi biển gắn với các khu bảo tồn biển và du lịch quốc gia.

Kết quả thực tế cho thấy, ngành thủy sản Việt Nam đang duy trì đà phục hồi mạnh mẽ. Theo dữ liệu từ VASEP, tính chung 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn quốc đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Kết quả này có sự đóng góp không nhỏ từ các mặt hàng nuôi biển cao cấp, khẳng định hướng đi đúng đắn của Chính phủ trong việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển.

Việc triển khai đồng bộ Đề án 1664 không chỉ giúp đạt được mục tiêu kim ngạch tỷ USD cho các mặt hàng như tôm hùm, mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh, quốc phòng vùng biển đảo của Tổ quốc. Như khẳng định của các chuyên gia thủy sản, con đường phía trước của nuôi biển Việt Nam chính là sự kết hợp giữa đổi mới và bền vững để vươn mình ra biển lớn.

Đỗ Hương