
TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam phát biểu tại Hội thảo - Ảnh: VGP/TG
Tại Hội thảo “Cơ hội và Chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ” tổ chức ngày 27/1, TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam cho biết, khái niệm “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” đã được hình thành từ Nghị định 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
Sau gần hai thập kỷ, bối cảnh phát triển đã thay đổi sâu sắc, đặc biệt khi doanh nghiệp đang đứng trước những cơ hội lớn từ các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, nổi bật là Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
Theo TS. Nguyễn Quân, nếu các quan điểm mang tính đột phá này được triển khai đầy đủ và thể chế hóa hiệu quả thông qua hệ thống luật pháp, nghị định, thông tư, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có dư địa phát triển rất lớn. Khi đó, hoàn toàn có thể hình thành một hệ thống doanh nghiệp hiện đại, hoạt động hiệu quả, đóng góp trực tiếp cho mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
Thực tế cho thấy, lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã có bước tăng trưởng đáng kể, từ vài trăm doanh nghiệp cách đây 3–4 năm, đến nay đã vượt mốc 1.000. Cùng với đó, sự bùng nổ của công nghệ số, bán dẫn, vi mạch và chuyển đổi số đang tạo nền tảng thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ bứt phá.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực, TS. Nguyễn Quân cũng chỉ ra một nghịch lý kéo dài nhiều năm, đó là: Hiệu quả triển khai chính sách đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn rất hạn chế. Không ít doanh nghiệp dù đáp ứng đầy đủ tiêu chí công nghệ nhưng lại không mặn mà với danh hiệu “doanh nghiệp KH&CN”.
Nguyên nhân chủ yếu, theo TS. Nguyễn Quân, là doanh nghiệp chưa cảm nhận được lợi ích thực chất từ các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng. Thủ tục hành chính vẫn là rào cản lớn. Trước đây, việc cấp giấy chứng nhận do các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương đảm nhiệm, song nhiều nơi thiếu cán bộ đủ năng lực thẩm định các dự án công nghệ phức tạp. Bên cạnh đó, các hướng dẫn cụ thể, chi tiết vẫn còn thiếu, trong khi quy trình tiếp cận ưu đãi về thuế và đất đai được đánh giá là rườm rà, khiến doanh nghiệp nản lòng.
Đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các startup, khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn vốn. Tài sản chủ yếu của họ là trí tuệ, trong khi tài sản thế chấp truyền thống gần như không có, khiến việc tiếp cận tín dụng ngân hàng trở nên khó khăn.
Từ thực tiễn đó, TS Nguyễn Quân đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược. Trước hết là cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng xác nhận kết quả nghiên cứu và văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ làm cơ sở cấp giấy chứng nhận. Đồng thời, các Bộ KH&CN, Bộ Tài chính cần ban hành các văn bản hướng dẫn thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính cho nghiên cứu và ứng dụng.
Một hướng đi quan trọng khác là ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp “spin-off” hình thành từ viện nghiên cứu, trường đại học. Dù mức hỗ trợ ban đầu không lớn, nhưng có vai trò kích hoạt, tạo động lực để doanh nghiệp phát triển nhanh hơn. Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của các quỹ tài chính đặc thù như quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương.
Bên cạnh đó, các địa phương cần có định hướng công nghệ chiến lược, tập trung nguồn lực cho các sản phẩm công nghệ chủ lực, thay vì để doanh nghiệp phát triển tự phát trong những lĩnh vực dễ làm.

Hội thảo “Cơ hội và Chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ” - Ảnh: VGP/TG
Cùng góc nhìn chính sách, TS. Phạm Thế Dũng, Phó Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam cho rằng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện nay đang chuyển dịch theo hướng tiếp cận hệ sinh thái, với nhiều trục hỗ trợ từ nâng cao năng lực nghiên cứu, hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ đến tham gia các chương trình khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này góp phần giảm chi phí, rủi ro và tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Trần Thanh Việt, CEO VGreen đẫ chia sẻ thực tiễn ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, một số sản phẩm thuộc hệ sinh thái Medifood VGreen được phát triển trên nền tảng công nghệ lên men vi sinh, định hướng ứng dụng dinh dưỡng khoa học trong chăm sóc sức khỏe chủ động, thể hiện cách doanh nghiệp đưa kết quả nghiên cứu và công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
Theo bà Trần Thanh Việt, việc lựa chọn con đường phát triển dựa trên chuẩn hóa quy trình, kiểm soát công nghệ và tích lũy năng lực khoa học và công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao độ tin cậy với đối tác, thị trường và mở ra dư địa phát triển bền vững. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như thiếu thông tin chính thức, hạn chế nguồn lực cho R&D và năng lực hấp thụ công nghệ.
Theo đó, việc hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế khuyến khích đầu tư R&D theo hướng minh bạch, linh hoạt, đồng thời tăng hiệu quả liên kết "ba nhà" giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp là rất cần thiết.
Thu Giang