In bài viết

Góc nhìn của chuyên gia Nhật Bản về mục tiêu năng suất của Việt Nam

(Chinhphu.vn) - Nghị quyết Đại hội XIV (2026-2030) của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt trọng tâm nâng cao năng suất dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mục tiêu quan trọng là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm, nhằm đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại.

28/01/2026 06:21
Góc nhìn của chuyên gia Nhật Bản về mục tiêu năng suất của Việt Nam- Ảnh 1.

Giáo sư Yasuhiro Kiuchi

Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã trao đổi với Giáo sư Yasuhiro Kiuchi của Đại học Gakushuin, nhà nghiên cứu cao cấp tại Trung tâm Năng suất Nhật Bản xung quanh mục tiêu này.

Thưa Giáo sư, ông đánh giá thế nào về mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của TFP trên 55% và đạt tăng trưởng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm của Việt Nam?

Giáo sư Yasuhiro Kiuchi: Theo số liệu của Tổ chức Năng suất châu Á (APO), trong giai đoạn 2019-2023, năng suất lao động thực tế của Việt Nam (tính theo lao động) tăng bình quân khoảng 5%/năm, trong khi đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP đạt khoảng 40,5%. Trên cơ sở các số liệu này, có thể thấy những mục tiêu được nêu ra là rất tham vọng.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các số liệu của APO phản ánh giai đoạn kinh tế toàn cầu chịu tác động nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19. Với những nỗ lực bền bỉ và phù hợp trong phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng hiệu quả công nghệ số, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng năng suất cao hơn so với trước đây.

Ngoài ra, tại Trung tâm Năng suất Nhật Bản, tôi đã thực hiện một phân tích dựa trên dữ liệu của Ngân hàng Thế giới về sự thay đổi năng suất lao động thực tế của các quốc gia trong giai đoạn 2019-2024 (được công bố trong báo cáo So sánh năng suất lao động Quốc tế 2025). Kết quả phân tích cho thấy, chỉ số năng suất lao động của Việt Nam năm 2024 đạt 133,5 (lấy năm 2019 = 100), mức tăng cao nhất trong số 156 nền kinh tế trên thế giới. Việc duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ này sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn tới.

Tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm được coi là rất cao. Theo Giáo sư, những điều kiện cốt lõi nào phải hội tụ để một nền kinh tế duy trì được mức tăng năng suất như vậy trong trung hạn?

Giáo sư Yasuhiro Kiuchi: Mức tăng trưởng năng suất lao động 8,5% mỗi năm là rất cao, song không phải là chưa từng có tiền lệ. Trong giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản thập niên 1960, năng suất lao động của Nhật Bản cũng tăng bình quân khoảng 8,6%/năm.

Đặt trong trình độ phát triển hiện nay của Việt Nam, việc tiếp tục củng cố và nâng cao vai trò của khu vực chế tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là lĩnh vực có tiềm năng cải thiện năng suất lớn thông qua đầu tư công nghệ, tự động hóa và tích lũy vốn hiện đại.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, có thể nhấn mạnh ba điều kiện mang tính nền tảng. Thứ nhất, thu hút hiệu quả các tập đoàn đa quốc gia đang tái cơ cấu chuỗi cung ứng.

Thứ hai, gia tăng đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Thứ ba, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp công nghệ cao và sản xuất hiện đại.

Góc nhìn của chuyên gia Nhật Bản về mục tiêu năng suất của Việt Nam- Ảnh 2.

Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng năng suất cao hơn

Trong bối cảnh Việt Nam muốn trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, theo Giáo sư, những ngành nào nên được coi là "động cơ năng suất" trong 10-20 năm tới?

Giáo sư Yasuhiro Kiuchi: Kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, việc mở rộng và nâng cao vai trò của khu vực chế tạo là hướng đi then chốt để vươn lên nhóm nền kinh tế phát triển. Vì vậy, việc Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ có ý nghĩa chiến lược.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa kinh tế và những điều chỉnh trong quan hệ giữa các trung tâm kinh tế lớn như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc, Việt Nam có cơ hội từng bước đảm nhận vai trò lớn hơn trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, qua đó thu hút các khâu có giá trị gia tăng ngày càng cao.

Tuy nhiên, phát triển công nghiệp trong giai đoạn tới không thể chỉ dựa trên mô hình chế tạo truyền thống. Bản thân khu vực này đang chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của số hóa, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Việc hình thành một nền sản xuất thế hệ mới, dựa trên công nghệ số và đổi mới sáng tạo, sẽ mở ra dư địa lớn để tiếp tục nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Giáo sư có thể chia sẻ một số kinh nghiệm, giải pháp của Nhật Bản trong việc nâng cao năng suất?

Giáo sư Yasuhiro Kiuchi: Trong nhiều năm, Nhật Bản và không ít nền kinh tế phát triển khác từng lo ngại về xu hướng chững lại của năng suất, phần nào do sự suy giảm của các đột phá công nghệ mang tính nền tảng. Gần đây, làn sóng chuyển đổi số, đặc biệt là sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, đã mở ra những triển vọng mới cho cải thiện năng suất.

Tuy vậy, giới doanh nghiệp Nhật Bản cũng thừa nhận rằng tốc độ ứng dụng công nghệ số của họ còn chậm so với một số nền kinh tế tiên tiến khác. Quá trình già hóa dân số là một trong những yếu tố làm giảm mức độ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ mới, đồng thời làm gia tăng tâm lý e ngại thay đổi trong tổ chức và phương thức quản lý.

Kinh nghiệm này cho thấy, để tận dụng hiệu quả các làn sóng công nghệ mới, các doanh nghiệp và toàn xã hội cần duy trì tính linh hoạt, khả năng thích ứng cao, đồng thời đầu tư dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư.

Diệu Hương