Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập (24/4/1906-24/4/2026)

Đồng chí Hà Huy Tập
Từ một cậu bé thông minh với kỷ niệm gối đầu bằng quả bưởi để dùi mài kinh sử, ông đã khước từ cuộc sống của một viên chức để dấn thân vào con đường cứu nước đầy gian khổ. Trải qua những năm tháng rèn luyện bản lĩnh tại "cái nôi" Đại học Phương Đông (Liên Xô) và những ngày chèo lái con thuyền cách mạng với cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Hà Huy Tập đã hiến dâng trọn vẹn trí tuệ sắc sảo và bầu máu nóng của tuổi trẻ cho độc lập dân tộc.
Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, tỉnh Hà Tĩnh (sau này là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, từ 01/7/2025 là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh). Thân phụ là cụ Hà Huy Tương, một Cống sinh khẳng khái, có khí tiết, sống thanh bạch, dạy học, bốc thuốc giúp dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành nhân cách của Hà Huy Tập. Thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lộc, người phụ nữ nông dân tần tảo, suốt đời gắn bó với ruộng vườn và sống tình nghĩa với xóm giềng. Dòng họ Hà Huy tại Cẩm Xuyên vốn là một nhánh của dòng họ Hà Công danh tiếng, có mặt tại Hà Tĩnh từ thế kỷ XV với truyền thống nối đời khoa bảng. Những câu chuyện về truyền thống yêu nước, hiếu học của gia đình, dòng họ đã sớm thấm vào tâm hồn cậu bé Hà Huy Tập, hun đúc, nuôi dưỡng một nhân cách lớn cho cách mạng Việt Nam. Cùng với đó, những câu chuyện về nỗi nhục mất nước, về các phong trào yêu nước của sĩ phu Nghệ Tĩnh cũng sớm khơi dậy trong tâm hồn cậu thiếu niên ý thức về vận mệnh của dân tộc.
Tư chất thông minh của Hà Huy Tập không chỉ là bẩm sinh mà còn là kết quả của một quá trình tự rèn luyện khắc khổ. Để vượt qua cơn buồn ngủ khi dùi mài kinh sử vào ban đêm, Hà Huy Tập đã dùng quả bưởi phơi khô đập dẹt làm gối; nếu ngủ quên, quả bưởi lăn sẽ làm tỉnh giấc để tiếp tục học. Khi không có đồng hồ, ông đã tự tính thời gian bằng cách thắp hương, tính toán mỗi khắc giờ tương ứng với độ cháy của từng que hương.
Khi học tại trường tiểu học tổng Thổ Ngọa, bài văn của Hà Huy Tập luôn được thầy phê chữ "Ưu". Có lần, bạn bè rủ ông đi chơi suốt tuần để "thử tài", nhưng cuối tuần bài của ông vẫn xuất sắc nhất lớp.
Năm 1916, khi Hà Huy Tập mới mười tuổi, thân phụ qua đời. Gia đình vốn nghèo lại càng khó khăn hơn. Chính trong hoàn cảnh ấy, ý chí vươn lên của cậu học trò nhỏ càng trở nên mạnh mẽ. Năm 1917, Hà Huy Tập vẫn nỗ lực đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp tiểu học. Sau đó, ông ra tỉnh lỵ Hà Tĩnh vừa làm "gia sư", vừa học tại Trường tiểu học Pháp - Việt. Năm 1919, với số điểm thủ khoa và suất học bổng 8 đồng mỗi tháng, Hà Huy Tập lên đường vào Huế theo học lớp Thành chung tại Trường Quốc học. Tại đây, ông đã may mắn được Giáo sư Võ Liêm Sơn tận tình dạy bảo về nhân cách và lòng yêu nước. Năm 1923, ông tốt nghiệp hạng ưu bằng Thành chung. Vâng theo lời thầy chọn nghề giáo để mở mang dân trí, Hà Huy Tập bắt đầu cuộc hành trình dấn thân đầy bão táp.
Từ bục giảng Nha Trang đến giảng đường Đại học Phương Đông
Tháng 9/1923, Hà Huy Tập bắt đầu dạy học tại Trường tiểu học Pháp - Việt Nha Trang. Với ông, bục giảng không chỉ để truyền chữ mà là nơi thắp lửa lòng yêu nước. Ông công khai tuyên truyền tư tưởng chống thực dân, kể cho học sinh nghe về các anh hùng dân tộc và quyền làm người. Thầy giáo trẻ dũng cảm dẫn đầu phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925) và tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh (1926) bất chấp mật thám theo dõi. Đêm đêm, ông mở lớp xóa mù chữ miễn phí cho hơn 150 công nhân, mượn ánh sáng văn hóa để thức tỉnh tinh thần giai cấp.
Những hoạt động yêu nước ấy khiến ông bị chính quyền thực dân theo dõi gắt gao, buộc phải rời Nha Trang vào giữa năm 1926. Trở về Vinh, ông dạy tại Trường Cao Xuân Dục và tiếp tục thổi bùng phong trào bãi khóa của học sinh. Khi ông bị cách chức giáo viên, công nhân Bến Thủy đã kéo đến biểu tình phản đối quyết liệt để bảo vệ người thầy cách mạng.
Năm 1927, Hà Huy Tập vào Nam Kỳ hoạt động, đảm nhiệm vai trò Thư ký Kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Đảng. Tại đây, ông không chỉ huấn luyện chính trị mà còn trực tiếp dịch các tác phẩm Mác-xít để truyền bá tư tưởng mới. Sau khi văn phòng bí mật bị lộ trong "Vụ án đường Bácbiê" (12/1928), ông bí mật rời Sài Gòn sang Trung Quốc. Tại Thượng Hải, ông vừa làm thuê để học tiếng Anh, vừa tìm đường sang Liên Xô - vùng đất mà ông tin rằng sẽ mang lại ánh sáng cho cách mạng Việt Nam.
Ngày 19/7/1929, Hà Huy Tập đặt chân đến Moscow, bắt đầu chương mới tại Trường Đại học Phương Đông với bí danh Xinhitrơkin. Trong suốt 3 năm học tập, ông say sưa nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của Marx, Engel, Lenin và tích cực thảo luận về chiến lược cách mạng ở các nước thuộc địa.
Không chỉ lý luận, Hà Huy Tập còn đi thực tập tại Nhà máy "Người chiến sĩ", học nghề nguội và được công nhận là thợ bậc hai. Việc trực tiếp lao động giúp ông hiểu thấu sức mạnh tiềm tàng của giai cấp công nhân. Ngày 25/4/1931, Hà Huy Tập được công nhận là đảng viên dự bị hai năm của Đảng Cộng sản Liên Xô. Quốc tế Cộng sản đánh giá ông là một đồng chí "rất chắc trong đường lối về phương diện chính trị, được huấn luyện tốt về lý thuyết và có kinh nghiệm trong công tác quần chúng".
Rời nước Nga vào năm 1932, Hà Huy Tập mang theo trọng trách hồi sinh phong trào cách mạng Đông Dương đang bị dìm trong khủng bố trắng.
Những năm đầu thập niên 1930 là thời kỳ vô cùng cam go đối với cách mạng Việt Nam. Sau cao trào Xô viết Nghệ-Tĩnh (1930-1931), thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng trên quy mô lớn, hàng nghìn cán bộ, đảng viên bị bắt, nhiều cơ sở Đảng bị tan vỡ, hệ thống lãnh đạo trong nước gần như tê liệt. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ cấp bách đặt ra là khôi phục tổ chức Đảng, giữ vững đường lối cách mạng và nối lại mạch liên hệ giữa phong trào trong nước với Quốc tế Cộng sản.
Trở về từ Liên Xô năm 1932 với vốn tri thức lý luận sâu sắc và kinh nghiệm hoạt động quốc tế, Hà Huy Tập nhanh chóng tham gia vào công việc đặc biệt quan trọng này. Đồng chí được phân công hoạt động trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, cơ quan lãnh đạo tạm thời đặt ở nước ngoài để chỉ đạo phong trào trong nước khi Trung ương Đảng chưa được khôi phục.
Trong điều kiện hoạt động bí mật và vô cùng nguy hiểm, Hà Huy Tập cùng các đồng chí của mình đã kiên trì gây dựng lại hệ thống liên lạc, củng cố tổ chức Đảng và đào tạo cán bộ. Những báo cáo, chỉ thị và tài liệu lý luận do đồng chí soạn thảo đã góp phần định hướng lại phong trào cách mạng đang đứng trước nhiều khó khăn. Với tầm nhìn lý luận sắc sảo, đồng chí đặc biệt nhấn mạnh việc giữ vững lập trường cách mạng vô sản, kiên quyết đấu tranh chống các khuynh hướng cơ hội, cải lương và những biểu hiện xa rời quần chúng.
Năm 1933, với bút danh Hồng Thế Công, Hà Huy Tập hoàn thành tác phẩm "Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương". Đây là công trình tổng kết đầu tiên về lịch sử hình thành và phát triển của phong trào cộng sản ở Việt Nam, đồng thời rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng cho sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới. Tác phẩm không chỉ thể hiện tư duy lý luận chặt chẽ mà còn phản ánh sự trăn trở sâu sắc của một người chiến sĩ cách mạng trước vận mệnh của Đảng và dân tộc.
Tháng 3/1935, tại Macau (Trung Quốc), Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước khôi phục hoàn chỉnh của hệ thống lãnh đạo Đảng sau những năm tháng bị khủng bố khốc liệt. Hà Huy Tập là một trong những cán bộ chủ chốt tham gia chuẩn bị các văn kiện và tổ chức Đại hội. Đại hội đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách: Củng cố tổ chức Đảng, phát triển phong trào quần chúng, tăng cường công tác tuyên truyền và mở rộng quan hệ với Quốc tế Cộng sản.
Sau Đại hội, phong trào cách mạng từng bước được khôi phục và phát triển. Năm 1936, trước những biến chuyển của tình hình quốc tế khi Chính phủ Mặt trận Nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời điều chỉnh sách lược đấu tranh. Tháng 7/1936, Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trên cương vị người đứng đầu, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939). Dưới sự chỉ đạo của Trung ương, phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp phát triển mạnh mẽ khắp cả nước: Từ phong trào đòi tự do báo chí, tự do hội họp, cải thiện đời sống công nhân, nông dân đến việc thành lập các tổ chức quần chúng rộng rãi như công hội, nông hội, hội truyền bá quốc ngữ…
Phong trào dân chủ những năm 1936-1939 đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên một bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam, mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong xã hội và chuẩn bị lực lượng cho những bước tiến lớn hơn sau này.
Tuy nhiên, khi phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ, thực dân Pháp lại một lần nữa mở rộng đàn áp. Tháng 5/1938, đồng chí Hà Huy Tập bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn. Dù bị giam cầm và tra tấn dã man trong nhiều nhà tù khác nhau, vị Tổng Bí thư trẻ tuổi vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Huy Tập không chỉ được ghi nhớ với tư cách một Tổng Bí thư kiên cường mà còn là một nhà lý luận xuất sắc của Đảng trong thời kỳ đầu.
Được đào tạo bài bản tại Trường Đại học Phương Đông ở Moscow, Hà Huy Tập là một trong những trí thức cách mạng sớm tiếp cận một cách hệ thống với chủ nghĩa Marx-Lenin. Những năm học tập tại Liên Xô đã giúp đồng chí nắm vững phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời hiểu sâu sắc những vấn đề của phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.
Trở lại hoạt động trong phong trào cách mạng Đông Dương, Hà Huy Tập đã vận dụng sáng tạo lý luận Marx-Lenin vào thực tiễn Việt Nam. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến việc tổng kết kinh nghiệm cách mạng, xây dựng cơ sở lý luận cho đường lối của Đảng và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ lý luận vững vàng.
Một trong những đóng góp nổi bật của đồng chí là tác phẩm "Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương" (1933). Đây được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên của Đảng về lịch sử phong trào cộng sản ở Việt Nam. Tác phẩm không chỉ hệ thống hóa quá trình hình thành các tổ chức cộng sản mà còn phân tích những thành công, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình vận động cách mạng. Qua đó, Hà Huy Tập đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và sự cần thiết phải kiên định con đường cách mạng vô sản.
Bên cạnh đó, đồng chí còn viết nhiều bài báo, tài liệu lý luận quan trọng nhằm đấu tranh chống các quan điểm sai lệch trong phong trào cách mạng, bảo vệ chủ nghĩa Marx-Lenin và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng. Những lập luận sắc bén, chặt chẽ của ông thể hiện tư duy khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần trách nhiệm cao đối với vận mệnh của Đảng.
Không chỉ là nhà lý luận, Hà Huy Tập còn là người gắn lý luận với thực tiễn phong trào quần chúng. Ông luôn nhấn mạnh rằng mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ đời sống thực tế của nhân dân lao động và hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
Với trí tuệ sắc sảo, tư duy lý luận sâu sắc và tinh thần cách mạng kiên định, Hà Huy Tập đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng lý luận và củng cố đường lối chính trị của Đảng trong những năm đầu đầy thử thách. Những đóng góp ấy đã khẳng định vị trí của ông trong hàng ngũ những nhà lý luận tiêu biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuộc đời đồng chí Hà Huy Tập là sự kết hợp giữa trí tuệ, lý tưởng và lòng dũng cảm. Từ một cậu học trò nghèo của vùng đất Cẩm Xuyên, đồng chí đã trở thành nhà lãnh đạo của Đảng và hiến dâng trọn vẹn tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người con của núi Hồng, sông Lam ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng dòng máu của đồng chí đã hòa vào dòng chảy của lịch sử dân tộc, góp phần làm nên mùa xuân độc lập của đất nước./.
Chu Văn Khánh