In bài viết

Hiệp định FTA Việt Nam – EFTA: Mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao

(Chinhphu.vn) - Ngày 18/10, theo kế hoạch, Việt Nam sẽ cùng các nước Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) ký hiệp định thương mại tự do sau khi các bên kết thúc thành công đàm phán vào tháng 7/2026, khép lại hành trình 14 năm với 21 vòng đàm phán chính thức.

17/10/2026 20:32
Hiệp định FTA Việt Nam – EFTA: Mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao- Ảnh 1.

Hiệp định Thương mại tự do giữa EFTA và Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam

EFTA là tổ chức liên chính phủ được thành lập nhằm thúc đẩy tự do thương mại và hội nhập kinh tế, hiện gồm 4 quốc gia thành viên là Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ. Việt Nam và khối EFTA đã trải qua 21 phiên đàm phán chính thức. Phiên đàm phán gần nhất diễn ra tại Iceland từ ngày 17 đến 22/6. Ngày 22/6, Thứ trưởng Bộ Công Thương dẫn đầu đoàn đàm phán Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng các nước EFTA tại Liechtenstein để trao đổi về các vấn đề cuối cùng còn tồn đọng để kết thúc đàm phán. Ngày 2/7, Việt Nam và các nước thành viên Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA) đã chính thức ra Tuyên bố chung về việc kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa hai bên.

Những năm qua, thương mại giữa EFTA và Việt Nam đã tăng trưởng ổn định. Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 4,8 tỷ EUR, trong đó Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại 2,5 tỷ EUR, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của quan hệ hợp tác này.

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, Hiệp định Thương mại tự do giữa EFTA và Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Trước hết, Hiệp định góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam tiếp cận thuận lợi hơn với các thị trường có sức mua cao và yêu cầu chất lượng hàng đầu thế giới như: Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ.

Bên cạnh đó, Hiệp định được kỳ vọng sẽ thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ các nước EFTA vào những lĩnh vực mà Việt Nam đang ưu tiên như công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng sạch, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đây không chỉ là nguồn vốn, mà còn là cơ hội tiếp nhận công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản trị và các mô hình phát triển bền vững.

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, lãnh đạo Bộ Công Thương cho rằng, việc hợp tác với các đối tác EFTA sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn, từ đó tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Ở chiều ngược lại, với thị trường hơn 100 triệu dân, vị trí chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và mạng lưới 17 FTA đã được thiết lập, Việt Nam cũng mong muốn trở thành đối tác tin cậy và là cầu nối để các doanh nghiệp EFTA mở rộng hiện diện tại ASEAN cũng như các thị trường khu vực. Điều này sẽ tạo ra các cơ hội hợp tác đầu tư, sản xuất và kinh doanh lâu dài, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp của cả hai bên.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia cho biết, FTA giữa Việt Nam - EFTA vượt ra ngoài một hiệp định cắt giảm thuế quan. Đây là thông điệp khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên định với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác và nâng cao chất lượng quan hệ thương mại với các nền kinh tế phát triển.

Theo bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, điều doanh nghiệp cần nhìn thấy không chỉ là cơ hội gia tăng xuất khẩu mà còn là cơ hội nâng cấp chính mình. Thị trường EFTA đặt ra những tiêu chuẩn rất cao, nhưng cũng chính những tiêu chuẩn ấy phù hợp với định hướng phát triển mới của Việt Nam là nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng tăng trưởng và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng bền vững.

Nội dung chính của Hiệp định

Hiệp định Thương mại tự do giữa EFTA và Việt Nam là một hiệp định thương mại tự do toàn diện và có mức độ cam kết cao, bao trùm nhiều lĩnh vực như thương mại hàng hóa và dịch vụ, quy tắc xuất xứ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, các biện pháp phòng vệ thương mại, mua sắm chính phủ, cũng như thương mại và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Hiệp định còn bao gồm các quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), hợp tác và xây dựng năng lực nhằm hỗ trợ các bên tận dụng hiệu quả các cơ hội từ Hiệp định.

Theo nội dung Hiệp định, đối với hàng công nghiệp và thủy sản, các nước EFTA cam kết tiếp tục duy trì việc xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Về phía Việt Nam, phần lớn thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản từ EFTA sẽ được cắt giảm và xóa bỏ trong thời hạn tối đa 11 năm.

Đối với nông sản, các bên áp dụng lộ trình mở cửa phù hợp với lợi ích thương mại và mức độ nhạy cảm của từng nước. Một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực của EFTA như phô mai, cà phê, chocolate, thực phẩm cho trẻ em và thực phẩm bổ sung sẽ được hưởng thuế suất 0% khi vào thị trường Việt Nam theo lộ trình tối đa 16 năm. Đồng thời, EFTA cũng dành cho Việt Nam các ưu đãi tương đương với các FTA gần đây mà khối đã ký kết.

Về quy tắc xuất xứ, Hiệp định quy định hệ thống quy tắc xuất xứ toàn diện nhằm bảo đảm hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan thực sự có nguồn gốc từ các bên tham gia. Một điểm đáng chú ý là cơ chế cộng gộp xuất xứ giữa các nước thành viên EFTA và Việt Nam, đồng thời cho phép cộng gộp mở rộng đối với nguyên liệu phi nông nghiệp có xuất xứ từ các nước ASEAN hoặc EU nếu có hiệp định thương mại ưu đãi với EFTA. Hiệp định cũng quy định rõ tiêu chí xuất xứ theo từng nhóm hàng, phương thức chứng nhận xuất xứ và các quy định về gia công, chế biến.

Tại Hiệp định, các bên cam kết đơn giản hóa và hiện đại hóa thủ tục hải quan, tăng cường minh bạch, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế và thực hiện đầy đủ các cam kết trong Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO.

Hiệp định tái khẳng định quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hiệp định của WTO về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Đồng thời, các bên cam kết tăng cường minh bạch, tham vấn trước khi áp dụng các biện pháp phòng vệ và hướng tới hạn chế sử dụng biện pháp chống bán phá giá giữa các bên. Ngoài ra, Hiệp định cũng thiết lập cơ chế tự vệ song phương nhằm xử lý trường hợp hàng nhập khẩu gia tăng gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.

Hiệp định xây dựng cơ chế hợp tác nhằm giảm thiểu các rào cản kỹ thuật và kiểm dịch động, thực vật trong thương mại. Các bên cam kết tăng cường minh bạch, trao đổi thông tin, thiết lập đầu mối liên hệ và thúc đẩy việc xây dựng các quy định kỹ thuật dựa trên cơ sở khoa học cũng như các tiêu chuẩn quốc tế.

Chương thương mại dịch vụ được xây dựng trên nền tảng Hiệp định GATS của WTO nhưng có phạm vi cam kết sâu hơn. Hiệp định bao gồm các quy định về đối xử quốc gia, minh bạch hóa quản lý, thanh toán và chuyển tiền, đồng thời có các phụ lục riêng về dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải biển quốc tế và di chuyển thể nhân. Hai bên cam kết mở cửa thị trường ở mức tương đương hoặc cao hơn các cam kết hiện hành trong WTO đối với nhiều lĩnh vực dịch vụ.

Về đầu tư, Hiệp định quy định nguyên tắc đối xử quốc gia đối với nhà đầu tư của các bên trong nhiều lĩnh vực ngoài dịch vụ theo phương thức "danh mục tích cực". Các lĩnh vực như nông nghiệp, khai khoáng và chế biến, chế tạo được mở cửa cho hoạt động đầu tư với một số ngoại lệ liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc rà soát đầu tư. Đồng thời, Hiệp định khẳng định quyền của mỗi quốc gia trong việc ban hành các chính sách nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hiệp định cũng bao gồm các quy định toàn diện về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và các biện pháp kiểm soát tại biên giới. Các bên tái khẳng định việc thực hiện đầy đủ Hiệp định TRIPS của WTO và khuyến khích tham gia thêm các điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Chương mua sắm chính phủ hướng tới tăng cường minh bạch, thúc đẩy sử dụng đấu thầu điện tử và tăng cường hợp tác giữa các bên. Hiệp định cũng đặt nền tảng cho các cuộc đàm phán tiếp theo về mở cửa thị trường mua sắm công và nhấn mạnh vai trò của mua sắm công trong phát triển bền vững cũng như hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tại Hiệp định, các bên thống nhất xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh bằng cách ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh như thỏa thuận độc quyền hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Hiệp định cũng thiết lập cơ chế hợp tác và tham vấn thông qua Ủy ban hỗn hợp để xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi.

Hiệp định cũng dành một chương riêng cho phát triển bền vững, trong đó các bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế về lao động và môi trường. Về lao động, các bên tái khẳng định việc thực hiện các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thúc đẩy bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử. Về môi trường, các bên cam kết thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.

Về hợp tác và xây dựng năng lực, Hiệp định thiết lập khuôn khổ hợp tác kỹ thuật nhằm giúp các bên tận dụng tốt hơn các cơ hội từ FTA, thông qua các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật. Nội dung hợp tác sẽ được rà soát định kỳ bởi Ủy ban hỗn hợp.

Hiệp định cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thông tin về thị trường, quy định thương mại và các cơ hội kinh doanh thông qua các cổng thông tin công khai bằng tiếng Anh. Các bên cũng tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ SMEs tận dụng hiệu quả các lợi ích từ Hiệp định.

Hiệp định thành lập Ủy ban hỗn hợp gồm đại diện của tất cả các bên nhằm giám sát việc thực thi và thúc đẩy phát triển Hiệp định. Đối với các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện, Hiệp định quy định cơ chế tham vấn, hòa giải và trọng tài. Nếu không đạt được kết quả thông qua tham vấn, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên theo quy trình được quy định trong Hiệp định.

Anh Thơ