In bài viết

Hơn 1,4 nghìn mô hình KH&CN giúp nâng cao sinh kế vùng nông thôn, miền núi

(Chinhphu.vn) - Sau 10 năm triển khai, Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số đã tạo dấu ấn rõ nét với trên 550 dự án, trên 1.400 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

26/06/2026 11:37
Hơn 1,4 nghìn mô hình KH&CN giúp nâng cao sinh kế vùng nông thôn, miền núi- Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phát biểu tại Hội thảo - Ảnh: VGP/TG

Sáng 26/6, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Báo cáo tại Hội thảo cho thấy, trong giai đoạn 2016-2025, Chương trình đã triển khai trên 550 dự án tại 34/34 tỉnh, thành phố; xây dựng trên 1.400 mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; chuyển giao trên 2.350 quy trình công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với điều kiện từng vùng, miền.

Các mô hình ứng dụng công nghệ đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi giá trị kinh tế tăng trung bình hơn 30% so với công nghệ trước đây. Cùng với đó, Chương trình đã đào tạo, bồi dưỡng hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82.700 lượt nông dân, công nhân về các quy trình kỹ thuật, công nghệ được chuyển giao.

Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định, kết quả quan trọng nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng dự án, mô hình hay quy trình công nghệ được chuyển giao, mà là việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương.

“Trong 10 năm qua, Chương trình đã hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra, khẳng định vai trò quan trọng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống người dân”, Thứ trưởng nhấn mạnh.

Hơn 1,4 nghìn mô hình KH&CN giúp nâng cao sinh kế vùng nông thôn, miền núi- Ảnh 2.

Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 - Ảnh: VGP/TG

Trong quá trình triển khai, nhiều mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ đã phát huy hiệu quả, tạo chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế địa phương.

Tiêu biểu như các mô hình trồng trọt tại Ninh Bình; sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu tại Hà Tĩnh, Quảng Trị; sản xuất lúa gạo chất lượng cao tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An...

Không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sản phẩm, nhiều dự án còn góp phần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đáng chú ý, nhiều sản phẩm từ các mô hình đã được phát triển thành sản phẩm OCOP, được cấp chỉ dẫn địa lý, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất. Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, đây là quá trình chuyển hóa tri thức, kết quả nghiên cứu của các tổ chức khoa học công nghệ, các chuyên gia thành phương thức sản xuất hiệu quả hơn của người dân, đặc biệt ở những vùng còn nhiều khó khăn.

Các sản phẩm OCOP không chỉ ghi nhận công sức lao động của người dân mà còn thể hiện sự kết tinh giữa lao động trực tiếp và lao động tri thức, góp phần tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn, ổn định hơn.

Nhờ áp dụng các quy trình công nghệ, nhiều sản phẩm địa phương đã nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường, mở ra cơ hội tham gia các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ, đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại, tạo việc làm ổn định cho người dân.

Hơn 1,4 nghìn mô hình KH&CN giúp nâng cao sinh kế vùng nông thôn, miền núi- Ảnh 3.

Thứ trưởng Lê Xuân Định và các đại biểu tham quan các gian hàng giới thiệu sản phẩm - Ảnh: VGP/TG

Cần đổi mới cách tiếp cận để phát triển bền vững

Theo Thứ trưởng Lê Xuân Định, các dự án nông thôn, miền núi có đặc thù khác với các nhiệm vụ khoa học công nghệ thông thường. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra công trình nghiên cứu, công bố khoa học hay bằng sáng chế, mà là thương mại hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm cụ thể, tạo giá trị kinh tế và sinh kế cho người dân.

Tuy nhiên, quá trình này luôn đối mặt với nhiều rủi ro. Trong đó có những yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường. Một mô hình sản xuất dù có tiềm năng nhưng nếu gặp rủi ro về thời tiết hoặc thị trường cũng có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư.

Bên cạnh đó, năng lực quản trị của một số đơn vị tiếp nhận công nghệ, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, người dân ở vùng khó khăn còn hạn chế. Trong khi đó, yêu cầu quản lý, kiểm tra, thanh quyết toán nguồn vốn hỗ trợ vẫn cần tuân thủ chặt chẽ, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu quản lý và năng lực thực tế của đơn vị triển khai.

Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng, cần có cách tiếp cận phù hợp hơn với đặc thù của các dự án phát triển nông thôn, miền núi; không thể áp dụng hoàn toàn mô hình quản lý của các nhiệm vụ khoa học công nghệ truyền thống.

Một vấn đề khác được đặt ra là khả năng dự báo thị trường. Khi triển khai một dự án kéo dài 3-5 năm, việc xác định nhu cầu thị trường trong tương lai là thách thức lớn. Sản phẩm cuối cùng có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kết nối thị trường, xây dựng chuỗi giá trị và tổ chức sản xuất.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng Chương trình cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức triển khai.

Theo đó, cần chuyển từ hỗ trợ mô hình sang giải quyết các bài toán phát triển cụ thể của địa phương; từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ hỗ trợ từng dự án riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại địa phương.

Việc đánh giá hiệu quả cũng cần chuyển từ số lượng mô hình sang tác động thực tế đối với kinh tế - xã hội, khả năng nhân rộng và đóng góp vào tăng trưởng của địa phương.

Tại Hội thảo, đại diện các địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cũng chia sẻ nhiều kết quả trong ứng dụng công nghệ vào sản xuất hoa, cây cảnh, dược liệu, khoai tây, nha đam, nuôi ong, chế biến gỗ và nông nghiệp công nghệ cao.

Các ý kiến khẳng định vai trò quan trọng của liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân trong đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất. Đồng thời, các đại biểu cũng đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ, duy trì mô hình sau khi dự án kết thúc và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm.

Thu Giang