In bài viết

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm

(Chinhphu.vn) - Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026 diễn ra chiều 3/8, các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế như các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng; giải pháp trước mắt và lâu dài cho xuất khẩu nông lâm thủy sản; chính sách miễn, giảm, giãn thuế cho người dân và doanh nghiệp... là những vấn đề nổi bật được báo chí quan tâm nêu ra với các cơ quan chức năng.

03/08/2026 18:25

PV Vũ Viết Tuân (Báo VnExpress): Vừa qua, toàn quốc tiến hành công tác sáp nhập và sắp xếp thôn, tổ dân phố theo quy định mới trong Nghị định số 185/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Xin Bộ Nội vụ cho biết đến thời điểm này, kết quả sáp nhập thôn, tổ dân phố trên toàn quốc như thế nào? Sau sắp xếp, hiện nay toàn quốc còn bao nhiêu thôn, tổ dân phố?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm- Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà trả lời câu hỏi của phóng viên về vấn đề sáp nhập thôn, tổ dân phố trên toàn quốc - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà: Đến nay, 34/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã hoàn thành việc sắp xếp thôn, tổ dân phố theo đúng yêu cầu của Bộ Chính trị và Chính phủ. Quá trình triển khai được thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, công khai, dân chủ, tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn.

Sau sắp xếp, số lượng thôn, tổ dân phố trên cả nước giảm từ 89.589 xuống còn 48.078 (giảm 41.511 đơn vị, tương đương giảm 46,33%).

Việc sắp xếp không chỉ tinh gọn đầu mối mà còn nâng quy mô quản lý, tỉ lệ thôn, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn theo quy định được nâng lên và khắc phục cơ bản tình trạng quy mô nhỏ, phân tán; đồng thời vẫn bảo đảm giữ ổn định các thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù về lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh và vị trí địa lý.

Cùng với việc sắp xếp, các địa phương đã hoàn thành việc kiện toàn tổ chức đảng, Ban Công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội; gắn với việc bố trí, sử dụng và giải quyết chế độ, chính sách một cách đồng bộ, kịp thời đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; bố trí cơ sở vật chất, bàn giao hồ sơ, tài sản và các điều kiện cần thiết khác để các thôn, tổ dân phố mới đi vào hoạt động ngay sau khi được thành lập, không làm gián đoạn hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở và đời sống của Nhân dân.

Có thể khẳng định, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố đã hoàn thành đúng mục tiêu, yêu cầu và tiến độ của Bộ Chính trị theo Kết luận số 34-KL/TW; góp phần tinh gọn tổ chức ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; đồng thời thực hiện việc cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách theo hướng ưu tiên những người có uy tín, năng lực, trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị cơ sở trong giai đoạn mới.

PV Anh Văn (Báo VTC News): Xin cho biết những giải pháp trước mắt và lâu dài để tháo gỡ khó khăn vướng mắc để thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm- Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng thông tin về các giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc để thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng: Trong tình hình khó khăn, thách thức ở cả thị trường quốc tế, khu vực và trong nước, chúng ta đã có những ứng phó rất kịp thời, đặc biệt là các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, sự tham gia trách nhiệm của các bộ, ngành và sự hưởng ứng tích cực của người dân nên nông nghiệp đạt được kết quả khá tích cực. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm là 42,8 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ năm ngoái là 7,5% và xấp xỉ đạt 60% mức Chính phủ giao là 72,4 tỷ USD. Đây là mục tiêu, mục đích chúng ta phấn đấu để chạm đến ngưỡng mới vượt 74 tỷ USD.

Nếu như chúng ta chia ra các mặt hàng thì có một số mặt hàng giảm như gạo, cà phê, sầu riêng, nhưng cũng có một số mặt hàng tăng như cao su, hồ tiêu, rau. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các mặt hàng giảm như việc hội nhập sâu rộng và tham gia rất nhiều thị trường lớn với quy định kỹ thuật có nhiều thay đổi, yêu cầu rất ngặt nghèo, khó khăn; chi phí đầu vào của nông nghiệp tăng do khủng hoảng và chiến tranh; gia tăng chi phí logistic; thị trường tiêu thụ.

Ngành nông nghiệp đã đưa ra kịch bản ngay từ đầu năm để thực hiện nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong quá trình tổ chức thực hiện từng quý, từng tháng đã có sự thay đổi linh hoạt với sự chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, luôn luôn tiếp cận việc sản xuất của người dân, doanh nghiệp cũng như vấn đề thị trường. Chính vì vậy đã có sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Quan trọng nhất là chúng ta đã bám sát thực tiễn, chỉ đạo kịp thời và ứng phó với sự thay đổi của thị trường cũng như vấn đề xuất nhập khẩu.

Về các giải pháp trước mắt, yếu tố đầu tiên quan trọng nhất, chúng ta phải nắm bắt kịp thời để từ bây giờ đến cuối năm ổn định và ứng phó kịp thời thiên tai, thời tiết. Đây là vấn đề cần ưu tiên khi chúng ta đang trải qua thời tiết cực đoan El Nino.

Thứ hai, cần nắm chắc thị trường. Tập trung sản xuất, nâng cao giá trị và chuyển hướng tư duy từ một nền sản xuất qua nền kinh tế nông nghiệp. Cần mạnh dạn thay đổi tư duy, thay đổi nhiều thị trường.

Thứ ba, cần cắt giảm thủ tục hành chính thực chất, hiệu quả để giảm chi phí cho doanh nghiệp người dân.

Thứ tư, đưa ứng dụng công nghệ, khoa học, chuyển đổi số vào thực tiễn.

Thứ năm, cần đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp.

Về giải pháp quan trọng mang tính lâu dài, chúng ta có 3 giải pháp sau:

Thứ nhất, phải tiếp tục tổ chức, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng chuyển mình sâu, gia tăng bền vững. Dư địa về tăng trưởng năng lực, giá trị thương hiệu và chất lượng là rất quan trọng.

Thứ hai, phải áp dụng giống và khoa học công nghệ theo chiều rộng và chiều sâu.

Thứ ba, phải tích cực bám sát thị trường và mở rộng các thị trường lớn, nâng cao giá trị để đưa ngành nông nghiệp xứng tầm là bệ đỡ của ngành kinh tế./.

PV Nguyễn Văn Dũng (Báo Tiền phong): Xin hỏi thời gian qua Chính phủ đã chuẩn bị những kịch bản điều hành như thế nào để vừa thúc đẩy tăng trưởng bứt tốc vừa kiểm soát lạm phát và ổn định tỉ giá?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm- Ảnh 3.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi thông tin các kịch bản điều hành để vừa thúc đẩy tăng trưởng bứt tốc vừa kiểm soát lạm phát và ổn định tỉ giá - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi: Thực tế, tăng trưởng 6 tháng đầu năm chúng ta đã đạt 8,18%. Để cả năm chúng ta có thể giữ mức tăng trưởng 2 con số, nhiệm vụ đối với 6 tháng còn lại của năm 2026 là rất lớn. Trong bối cảnh này, khó khăn thách thức đối với chúng ta, cả Nhà nước và doanh nghiệp là rất lớn. Bộ Tài chính cùng với các bộ ngành đã tham mưu cho Chính phủ các kịch bản tăng trưởng. Chính phủ đã xem xét rất kỹ lưỡng và ban hành Nghị quyết số 168 ngày 27/6. Sau phiên họp thường kỳ tháng 6 giữa Chính phủ và các địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 180 ngày 18/7/2026, trong đó đồng bộ các giải pháp ứng với các kịch bản khác nhau, có thể linh hoạt trong điều hành kinh tế nếu có những biến động trong thời gian cuối năm.

Thứ nhất về chính sách tài khóa, chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Và chúng ta triển khai các chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất cho người dân và doanh nghiệp để tạo ra nguồn lực tốt hơn giúp doanh nghiệp, người dân có những điều kiện kinh doanh, vốn, tài chính tốt hơn. Rồi điều chỉnh linh hoạt một số quy định về thuế xăng dầu, nhiên liệu bay, phù hợp với diễn biến giá của thế giới. Và đặc biệt, chúng ta cũng nói rất nhiều đến đầu tư công - một trụ cột hết sức quan trọng trong tăng trưởng. Chúng ta vừa hoàn thành việc phân bổ nguồn tăng thu ngân sách Trung ương năm 2025 và phân bổ vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 đến các bộ ngành, địa phương, đến các dự án để chúng ta có thể triển khai và giải ngân, thúc đẩy tăng trưởng.

Một trong những nội dung quan trọng trong chính sách tài chính là trong năm 2026 sẽ tăng lương cơ sở. Ngành tài chính đã phối hợp và cùng với các địa phương chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để thực hiện tăng lương cơ sở cho năm 2026. Trong phiên họp Chính phủ tháng 7, Chính phủ phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 sẽ tăng ít nhất 10% so với năm 2025.

Nhóm chính sách thứ hai, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải khai thác tối đa các nguồn lực nguồn lực sẵn có, những dư địa kết hợp với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mọi quy định chính sách lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Chúng ta có một động lực tăng trưởng mới và rất quan trọng và chúng ta sẽ tiếp tục để nó trở thành động lực chính trong tăng trưởng suốt thời gian tới. Đó là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiệm vụ này cũng được Chính phủ chỉ đạo hết sức sát sao và coi triển khai hiệu quả nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số này là nhiệm vụ gắn với trách nhiệm của người đứng đầu mỗi cơ quan, bộ ngành, địa phương để hướng tới thực hiện các mục tiêu tăng trưởng.

Các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa các nhiệm vụ của 6 tháng cuối năm theo từng tháng, từng quý, xác định rõ cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và công khai kết quả thực hiện. Phát huy các cơ chế, chính sách mới ban hành với tinh thần "hành động, hành động và hành động, làm việc, làm việc và làm việc". Hiện nay, việc xác định kết quả, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương được làm một cách rất nghiêm túc và chặt chẽ, và có thể nói đây là KPI cho công chức, cho người lao động. Chính phủ xem xét minh bạch và công khai tất cả những nhiệm vụ đó cho xã hội, cho báo chí để tất cả mọi người, cả hệ thống chính trị cùng cố gắng, cùng tập trung thực hiện các giải pháp hiệu quả.

Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng với những giải pháp và chính sách rất cụ thể của Chính phủ vừa qua, với những kịch bản tăng trưởng chi tiết, chúng ta sẽ đạt được kết quả và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số cho cả năm 2026. 

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm- Ảnh 4.

Phó Thống đốc NHNN Việt Nam Phạm Thanh Hà thông tin về chính sách tiền tệ cũng như công tác phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà: Ngân hàng Nhà nước xin bổ sung một số nội dung liên quan đến chính sách tiền tệ cũng như công tác phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

Bức tranh vĩ mô có một số chỉ số quan trọng, nhất là về tăng trưởng. Trong 6 tháng đầu năm, chúng ta đã đạt được kết quả tăng trưởng 8,18%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn khó lường, mâu thuẫn địa chính trị ở Trung Đông, rồi căng thẳng thương mại giữa các nước lớn, rõ ràng kết quả như vậy rất tích cực đối với một nền kinh tế đang mới nổi và đang phát triển như Việt Nam.

Về lạm phát, 7 tháng đầu năm, lạm phát đã được kiểm soát ở mức 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Về mặt tiền tệ, lạm phát ở mức 4,19% và kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định.

Tuy nhiên, chúng ta thấy tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm cũng chưa được như kỳ vọng. Như vậy 6 tháng cuối năm, áp lực rất lớn. Chúng ta còn 5 tháng nữa để hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tối thiểu 10%. Cho nên kịch bản điều hành của Chính phủ được đề ra rất chi tiết.

Về chính sách tiền tệ, chúng tôi đã thực hiện nhiều giải pháp, công cụ để cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong khi đó vẫn phải đảm bảo mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và giữ an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng.

Thứ nhất về thanh khoản, hệ thống ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Từ đầu năm đến nay cũng như các thời gian trước đây, Ngân hàng Nhà nước luôn đảm bảo thanh khoản thanh toán cho thị trường liên ngân hàng bằng các công cụ, biện pháp như thị trường mở hàng ngày, cung ứng vốn cho các tổ chức tín dụng với các kỳ hạn, khối lượng rất linh hoạt theo yêu cầu của thị trường.

Điều này hỗ trợ nguồn vốn ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng nhằm ổn định thị trường tiền tệ và qua đó góp phần thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hoán đổi ngoại tệ sang đồng Việt Nam để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, cho các ngân hàng thương mại trong một số thời điểm thanh khoản có nhu cầu và áp lực lớn.

Về lãi suất, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành để điều chỉnh cho các tổ chức tín dụng tiếp cận vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí hợp lý. Kết quả là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tương đối ổn định và duy trì ở mức hợp lý, thanh khoản tốt.

Về tỉ giá, đây là một biến số rất quan trọng. Trên cơ sở quan hệ cung cầu về biến động xuất nhập khẩu, về đầu tư, về vay nợ, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành tỉ giá linh hoạt và phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần giảm thiểu các cú sốc bên ngoài và phối hợp đồng bộ các công cụ giải pháp khác như lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hay thanh khoản của đồng Việt Nam nhằm ổn định thị trường ngoại tệ. Nhờ đó, thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt và tỉ giá cơ bản ổn định, ở mức ngang bằng mức cuối năm ngoái. Ngày hôm nay, Đồng Việt Nam có lên giá nhẹ, tức là tỉ giá có giảm so với cuối năm 2025.

So với đồng tiền của các nước trong khu vực và một số nước đồng tiền chính trên thế giới, đồng Việt Nam là một trong những đồng tiền ổn định nhất. Rõ ràng với tỉ giá ổn định như vậy, chúng ta đã hạn chế được mức thấp nhất yếu tố lạm phát nhập khẩu do tỉ giá. Các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và thanh khoản ngoại tệ được đảm bảo.

Về tín dụng, đây là khía cạnh cũng rất quan trọng đối với nền kinh tế và với hệ thống ngân hàng. Chúng tôi tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô. Chúng tôi triển khai các giải pháp, chính sách như có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các ngân hàng thương mại cấp tín dụng đối với các dự án lớn, đặc biệt là 18 dự án hạ tầng quy mô lớn, trọng điểm có tính chất lan tỏa, liên kết và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, kinh tế địa phương. Chúng tôi cũng đã điều chỉnh tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở mức 30% đến 40%, tạo thêm dư địa cho việc cấp tín dụng không chỉ ngắn hạn mà trung dài hạn cho các dự án trọng điểm của đất nước hoặc của các địa phương.

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đã cho phép các ngân hàng thương mại được không tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hạng mục cho vay đối với nhà ở xã hội, bất động sản khu công nghiệp và khu chế xuất, tạo điều kiện để các ngân hàng cung ứng vốn, tăng thêm tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên và mang tính chất an sinh.

Về phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, chúng tôi đã phối hợp đồng bộ, kịp thời và nhịp nhàng. Cụ thể là tạo dư địa cân đối vốn cho các tổ chức tín dụng trong việc cấp tín dụng góp phần phát triển kinh tế. Mới đây, ngày 30/7 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỉ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước từ 20% đến 50% để tạo thêm dư địa cho các ngân hàng thương mại trong cấp tín dụng và chính sách này áp dụng trong 2 năm, từ 1/8 năm nay cho đến hết ngày 31/7/2028.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã họp và chỉ đạo, khuyến khích các ngân hàng thương mại, trong đó phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của các ngân hàng thương mại nhà nước để chủ động bố trí nguồn vốn cho vay ưu đãi, giảm lãi suất ưu đãi với các chương trình tín dụng hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, hướng đến các lĩnh vực ưu tiên. Đến nay, các ngân hàng thương mại nhà nước (4 ngân hàng thương mại nhà nước) đã đăng ký số tiền 220.000 tỷ đồng để cho vay gói ưu đãi này. Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương xây dựng các hướng dẫn cụ thể, chi tiết để các ngân hàng có thể triển khai sớm trong một vài ngày tới.

Với các giải pháp đồng bộ như vậy, đến ngày 29/7 vừa qua, tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,15 triệu tỷ đồng và so với cuối năm ngoái tăng 8,38%. Cơ cấu tiếp tục tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên và các ngành, lĩnh vực động lực của nền kinh tế theo đúng chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trong thời gian tới, chúng tôi thấy rằng bối cảnh thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức, áp lực và có những diễn biến khó lường, ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bám sát diễn biến tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước để trong những tháng cuối năm điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm:

Thứ nhất, đảm bảo ổn định thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng. Thứ hai là ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Chúng tôi sẽ theo dõi tình hình tăng trưởng tín dụng và đặc biệt là triển khai các gói, chương trình tín dụng theo mục tiêu để có các giải pháp kịp thời.

Một vấn đề nữa liên quan đến thể chế, Ngân hàng Nhà nước đang trình các cấp có thẩm quyền hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Phòng, chống rửa tiền. Trong đó có một số quy định mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, khơi thông nguồn vốn để góp phần hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.

PV Lý Hà (Tạp chí kinh tế Việt Nam - VnEconomy): Từ ngày 1/7/2026, lương cơ sở tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng. Để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trước các áp lực giá cả, xin cho biết Chính phủ đã có những kế hoạch, đề xuất kéo dài các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế đến hết năm 2026 không?

Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026: Các vấn đề gắn với phát triển kinh tế được quan tâm- Ảnh 5.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi trao đổi với phóng viên về các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế năm 2026 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi: Tôi xin được thông tin các chính sách về miễn giảm, gia hạn thuế và phí trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất về thuế giá trị gia tăng, hiện nay chính sách đang giảm 2% thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng dịch vụ có mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8%, áp dụng đến hết ngày 31/12/2026.

Về thuế sử dụng đất nông nghiệp, thời hạn miễn thuế đến hết ngày 31/12/2030.

Về gia hạn thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân trong năm 2026.

Tiếp tục thực hiện chính sách miễn giảm 46 khoản phí, lệ phí và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 đến hết ngày 31/12/2026 để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, chúng ta thấy rằng tác động mặt hàng này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của nền kinh tế và tác động đến giá cả.

Về chính sách tài khóa mà Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền, xin báo cáo như sau.

Giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu về 0% từ ngày 9/3/2026 đến hết ngày 30/9/2026. Giảm các sắc thuế cấu thành trong giá xăng dầu, thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt về 0% từ ngày 27/3/2026 đến hết ngày 30/6/2026. Tiếp tục kéo dài thời hạn áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường 0 đồng và không phải kê khai tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ đầu vào đối với xăng dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu đến hết ngày 30/9/2026.

Một chính sách nữa là trong quá trình xảy ra xung đột ở Trung Đông, trước tình hình giá xăng dầu có biến động mạnh, Ngân sách Nhà nước đã ứng 8.000 tỷ đồng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu để sử dụng cho việc hỗ trợ giá đối với các mặt hàng xăng dầu để chúng ta bình ổn giá xăng dầu. Kết quả đã phát huy tác dụng rất tốt trong giai đoạn vừa qua.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang tiếp tục phối hợp với Bộ Công Thương, các bộ, ngành có liên quan xây dựng các phương án giá, phương án thuế, phí, lệ phí liên quan để ứng phó với các kịch bản nếu như có những biến động phức tạp và cần có giải pháp của Chính phủ nhằm giữ được ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát, bảo đảm các mục tiêu chung.