In bài viết

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

(Chinhphu.vn) - Chiều 24/8, với 477/478 số đại biểu tham gia tán thành (chiếm tỉ lệ 95,4%), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

24/08/2026 16:27
Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035- Ảnh 1.

Các đại biểu tham dự tại Kỳ họp - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Theo đó, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 được hợp nhất từ 4 chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như sau: Phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 mức bình quân chung của cả nước.

Phấn đấu tỉ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1%-1,5%/năm; giảm tỉ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.

Phấn đấu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có 5 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Về bảo tồn và phát triển văn hóa, mục tiêu đến năm 2030 là hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo 95% di tích quốc gia đặc biệt (khoảng 120 di tích) và 70% di tích quốc gia (khoảng 2.500 di tích); phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP của cả nước; 100% đơn vị hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tin học hóa, chuyển đổi số, ứng dụng các thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Phấn đấu 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia các hoạt động giáo dục nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa. Hằng năm, có ít nhất 5 sự kiện quốc tế lớn về văn hóa, nghệ thuật tại nước ngoài có sự tham gia chính thức của Việt Nam.

Về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phấn đấu 30% cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông có thiết bị để triển khai dạy và học một số môn bằng tiếng Anh, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Đầu tư trọng điểm cho 18 trường cao đẳng, trong đó 6 trường thực hiện chức năng trung tâm quốc gia và 12 trường thực hiện chức năng trung tâm vùng đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao trong các ngành, nghề kỹ thuật, công nghệ, phục vụ các chương trình, dự án chiến lược, trọng điểm quốc gia. Hình thành 10 trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm.

Về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, đến năm 2030, phấn đấu tỉ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe theo vòng đời đạt 100%. Tỉ lệ trạm y tế xã, phường, đặc khu triển khai dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm theo hướng dẫn của Bộ Y tế đạt 100%; tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 15%.

Tổng nguồn lực thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2035 là 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 345.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 395.392 tỷ đồng. HĐND cấp tỉnh quyết định cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên từ nguồn ngân sách địa phương...

Việc phân bổ ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; ưu tiên ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo; đồng thời có cơ chế hỗ trợ, phân kỳ hỗ trợ đối với các đối tượng mới thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn, thoát nghèo.

Quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án có cùng nội dung, nhiệm vụ trên cùng địa bàn; phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của Chương trình, không để xảy ra nợ đọng xây dựng cơ bản.

Chính phủ quy định cụ thể việc lồng ghép nguồn vốn, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, tạo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện.

Thùy Linh