
PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) phát biểu tại Hội thảo - Ảnh: VGP/TG
Tại Hội thảo “Hợp tác Ba nhà trong phát triển tài sản mã hoá và thúc đẩy thị trường công nghệ”, tổ chức ngày 20/3, PGS.TS Vũ Văn Tích, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) nhấn mạnh, tài sản mã hóa đang nổi lên như một loại hình tài sản mới trong nền kinh tế số toàn cầu, với quy mô thị trường đã vượt hàng nghìn tỷ USD.
Nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, các nước EU, Singapore, Nhật Bản và gần đây là Trung Quốc đã và đang tích cực xây dựng khung pháp lý, triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và hình thành hệ sinh thái hỗ trợ tài sản mã hóa gắn với thị trường công nghệ.
Đáng chú ý, xu hướng token hóa tài sản thực (Real World Assets – RWA), bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu và kết quả nghiên cứu khoa học, đang mở ra cơ hội lớn cho việc thương mại hóa công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Tại Việt Nam, tài sản mã hoá đang tồn tại trong thực tiễn. Thời gian gần đây, hành lang pháp lý bước đầu được định hình thông qua Luật Công nghiệp công nghệ số, Nghị định số 353/2025/NĐ-CP CP quy định chi tiết thi hành Luật này và Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa.
Cùng với đó, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã xác định rõ yêu cầu xây dựng môi trường thử nghiệm (sandbox) cho các công nghệ mới.
Tuy nhiên, dù khung chính sách đang mở ra, mô hình hợp tác giữa Nhà nước – Nhà Khoa học-Công nghệ (viện nghiên cứu/trường đại học/ tổ chức nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ) – doanh nghiệp ("ba nhà") trong lĩnh vực tài sản mã hoá vẫn còn rất hạn chế.
Thực tiễn triển khai đang bộc lộ sự thiếu hụt các cơ chế điều phối cụ thể để chia sẻ nguồn lực, chuyển giao công nghệ bảo mật và phân bổ lợi ích phù hợp. Đây là khoảng trống thực thi cần được nhận diện và giải quyết một cách hệ thống để đưa chính sách vào đời sống.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đánh giá tài sản số là công cụ hiệu quả trong chuyển đổi số, đặc biệt trong quản lý quyền sở hữu và dòng tiền. Tuy nhiên, để tham gia thị trường một cách an toàn, doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều rào cản như chi phí đầu tư lớn, yêu cầu tuân thủ pháp lý cao, hạ tầng công nghệ bảo mật phức tạp và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao.
Trong bối cảnh đó, nhu cầu cấp thiết là sự đồng hành của Nhà nước thông qua việc thiết lập hành lang pháp lý rõ ràng, đặc biệt là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cùng với sự hỗ trợ từ các viện nghiên cứu, trường đại học trong chuyển giao công nghệ và tư vấn chuyên môn.
Đại diện Công ty Vinsmart Future, cho rằng, việc lựa chọn cơ chế sandbox cho tài sản mã hóa trong giai đoạn hiện nay là hướng đi phù hợp. Sandbox, về bản chất, là một khung pháp lý đặc thù, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới trong phạm vi giới hạn, dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý.
Đối với tài sản mã hóa, đặc biệt là các mô hình gắn với tài sản thực như bất động sản, sandbox giúp kiểm soát các rủi ro đặc thù như rủi ro kỹ thuật (lỗi hợp đồng thông minh, tấn công mạng), rủi ro pháp lý (phân loại tài sản, giới hạn sở hữu), rủi ro tài chính (biến động giá, rửa tiền) và rủi ro xã hội (nhà đầu tư thiếu hiểu biết).
Dù Nghị quyết số 05/NQ-CP đã đặt nền móng thí điểm thị trường tài sản mã hóa trong giai đoạn 2025–2030, song vẫn cần sandbox để triển khai “thí điểm sâu”, cho phép thử nghiệm thực tế, điều chỉnh linh hoạt và thu thập dữ liệu phục vụ hoàn thiện pháp lý.
Một trong những địa phương đi đầu trong triển khai sandbox là TP. Đà Nẵng. Đại diện Sở KH&CN TP. Đà Nẵng cho biết, thành phố đã xây dựng cơ chế thử nghiệm dựa trên các nghị quyết của Quốc hội và HĐND thành phố, cho phép doanh nghiệp đề xuất và triển khai các mô hình công nghệ mới trong phạm vi kiểm soát.
Đến nay, thành phố đã tiếp nhận 21 hồ sơ đề xuất và cấp phép cho 2 dự án thử nghiệm, bao gồm các mô hình ứng dụng blockchain trong chuyển đổi tài sản mã hóa và trung gian chuyển đổi tài sản số với tiền pháp định.
Thực tiễn này cho thấy Đà Nẵng đã bước đầu chuyển từ xây dựng cơ chế sang triển khai thử nghiệm thực tế, qua đó tích lũy kinh nghiệm trong giám sát và quản lý rủi ro đối với các công nghệ mới.
Các ý kiến tại Hội thảo cũng cho rằng, để phát huy hiệu quả của tài sản mã hóa, cần đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết là hoàn thiện khung pháp lý thống nhất về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ mới như blockchain. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành như tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ trong quản lý và giám sát.
Bên cạnh đó, việc xây dựng hạ tầng blockchain dùng chung ở cấp quốc gia được xem là yếu tố quan trọng, giúp bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và triển khai các ứng dụng trên quy mô lớn.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là phát triển nguồn nhân lực. Việc đào tạo đội ngũ có chuyên môn về công nghệ chuỗi khối, phân tích dữ liệu và an ninh mạng sẽ quyết định khả năng triển khai và giám sát hiệu quả các mô hình tài sản mã hóa.
Mô hình hợp tác “ba nhà” được xác định là yếu tố then chốt. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và môi trường pháp lý; các cơ sở nghiên cứu cung cấp tri thức, công nghệ; doanh nghiệp đảm nhận vai trò thương mại hóa và đưa sản phẩm ra thị trường.
Thu Giang