In bài viết

Hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số: Từ ký kết đến hành động thực chất

(Chinhphu.vn) – Hợp tác quốc tế trong giáo dục cần chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ ký kết sang triển khai, hướng tới những chương trình và kết quả cụ thể. Đây là một trong những định hướng được PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD&ĐT), nhấn mạnh trước thềm Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số.

06/10/2026 17:02

Trong hai ngày 8-9/10 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, với sự tham gia của hơn 900 đại biểu đến từ khoảng 40 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong đó có đại diện nhiều trường đại học thuộc nhóm 100 thế giới, các tập đoàn công nghệ lớn và tổ chức giáo dục quốc tế.

Hội nghị tập trung trao đổi về hạ tầng và hệ sinh thái dữ liệu giáo dục; năng lực của người học và nhà giáo; đổi mới mô hình đào tạo, quản trị dựa trên dữ liệu và các chuẩn mực sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm. 

Hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số: Từ ký kết đến hành động thực chất- Ảnh 1.

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội cho giáo dục

Giáo dục phải chuẩn bị con người để làm việc cùng AI

Chia sẻ trước thềm Hội nghị, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy cho biết, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội cho giáo dục, từ mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, cá thể hóa việc học đến nâng cao hiệu quả quản trị. Tuy nhiên, công nghệ cũng đặt ra những vấn đề về độ tin cậy của thông tin, đạo đức, bản quyền, an toàn dữ liệu và nguy cơ gia tăng khoảng cách số.

Một yêu cầu quan trọng là chuẩn bị cho người học khả năng làm việc hiệu quả cùng AI, biết sử dụng công nghệ để nâng cao năng lực nhưng không lệ thuộc hoặc để công nghệ thay thế quá trình tư duy.

Người học cần được phát triển tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo và khả năng chủ động tiếp cận, từng bước làm chủ công nghệ. Với nhà giáo, AI có thể hỗ trợ dạy học tốt hơn, hiểu người học tốt hơn và tạo thêm điều kiện cho sự sáng tạo. Tuy nhiên, vai trò của người thầy trong sáng tạo tri thức, truyền cảm hứng và dẫn dắt người học vẫn rất quan trọng.

Đối với các cơ sở giáo dục, chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc đưa công nghệ vào mô hình hiện có mà còn đòi hỏi đổi mới phương thức tổ chức dạy học, mô hình đào tạo và quản trị.

Riêng với giáo dục đại học, những nội dung như chiến lược đại học số, đại học thông minh, ứng dụng AI trong giảng dạy, đánh giá và quản trị đang được đặt ra. Các trường cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang kiến tạo môi trường học tập, phát triển năng lực, sáng tạo và trải nghiệm; đồng thời tăng cường kết nối với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và xã hội. 

Hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số: Từ ký kết đến hành động thực chất- Ảnh 2.

PGS.TS Nguyễn Thu Thủy: Hợp tác quốc tế là một năng lực cốt lõi của mỗi cơ sở giáo dục đại học - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Cường

Hợp tác quốc tế không thể chỉ dừng ở ký kết

Bên cạnh yêu cầu đổi mới giáo dục, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy cho rằng, hợp tác quốc tế cần được coi là một năng lực cốt lõi của mỗi cơ sở giáo dục đại học, không chỉ là hoạt động đối ngoại bổ trợ.

Hiệu quả hợp tác không thể chỉ đo bằng số biên bản ghi nhớ, số đoàn ra, đoàn vào hay số chương trình liên kết. Để rút ngắn quá trình hội nhập, các trường cần chuyển từ hợp tác theo chiều rộng sang chiều sâu, lựa chọn những đối tác phù hợp và xây dựng quan hệ bền vững.

Đặc biệt, cần chuyển từ ký kết sang triển khai. Biên bản ghi nhớ chỉ là điểm xuất phát, còn giá trị hợp tác nằm ở các chương trình đào tạo chung, đề tài nghiên cứu chung, hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên và công nhận tín chỉ trên thực tế.

Hoạt động hợp tác cũng cần gắn với chiến lược phát triển của từng trường, xác định rõ mục tiêu, đối tác và kết quả cần đạt được, thay vì triển khai những hoạt động riêng lẻ.

Một định hướng khác được bà Thủy đề cập là chuyển từ tiếp nhận thụ động sang hợp tác bình đẳng, cùng kiến tạo và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Việt Nam mong muốn tiếp cận tri thức, công nghệ và các mô hình tốt của thế giới, nhưng không chỉ dừng ở việc tiếp nhận những giải pháp có sẵn.

Thay vào đó, các bên có thể cùng nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm những giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời có khả năng đóng góp trở lại cho cộng đồng quốc tế.

Hợp tác cũng cần mở rộng từ các quan hệ song phương riêng lẻ sang hệ sinh thái gắn kết nhà trường, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và xã hội. 

Kỳ vọng hình thành những chương trình hợp tác cụ thể

Trong khuôn khổ Hội nghị, Triển lãm Giáo dục và Công nghệ giáo dục được tổ chức với 70 gian hàng, tạo không gian để các cơ sở giáo dục Việt Nam tiếp cận những mô hình, phương pháp và công nghệ giáo dục mới, đồng thời tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác quốc tế.

Bộ GD&ĐT kỳ vọng từ những kết nối này, các bên có thể tiếp tục hợp tác trong xây dựng và khai thác dữ liệu giáo dục; ứng dụng AI trong dạy học, đánh giá và quản trị; phát triển năng lực số, năng lực AI cho nhà giáo; xây dựng các chuẩn mực về AI an toàn, có trách nhiệm và triển khai những chương trình nghiên cứu, thử nghiệm chung.

Để tạo điều kiện cho hợp tác quốc tế, Bộ GD&ĐT cũng đang tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý. Dự thảo Nghị định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong giáo dục đang được lấy ý kiến theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời bảo đảm chất lượng và quyền lợi người học.

Dự thảo cũng hướng tới mở rộng các hình thức liên kết đào tạo, cho phép thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo chung và phân hiệu của trường nước ngoài tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT xác định cần tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục, trong điều kiện năng lực hội nhập giữa các trường hiện chưa đồng đều.

PGS.TS Nguyễn Thu Thủy nhấn mạnh, điều quan trọng về lâu dài là các sáng kiến hợp tác phải gắn với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực cho nhà giáo, cán bộ quản lý và người học.

Thông qua Hội nghị, Bộ GD&ĐT mong muốn cùng các đối tác thúc đẩy những chương trình hợp tác cụ thể, từng bước đưa các sáng kiến vào thực tế giáo dục Việt Nam. 

Thu Trang