In bài viết

Hướng tới xuất khẩu ngành Nông nghiệp đạt 100 tỷ USD: Giảm dấu chân carbon ngành cao su để tăng giá trị

(Chinhphu.vn) - Gia tăng giá trị xuất khẩu cao su Việt Nam không còn chỉ dựa vào việc tăng sản lượng, mà phụ thuộc vào hàm lượng "xanh" trong mỗi tấn sản phẩm. Trọng tâm của ngành nên đặt vào việc giảm dấu chân carbon để khẳng định thương hiệu thay vì chỉ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn từ tín chỉ.

15/08/2026 15:15
Hướng tới xuất khẩu ngành Nông nghiệp đạt 100 tỷ USD: Giảm dấu chân carbon ngành cao su để tăng giá trị- Ảnh 1.

TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách thương mại lâm sản, Tổ chức Forest Trends: "Trọng tâm của ngành nên đặt vào việc giảm dấu chân carbon để khẳng định thương hiệu thay vì chỉ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn từ tín chỉ" - Ảnh: Chinhphu.vn/Đỗ Hương

Đây là quan điểm của TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách thương mại lâm sản, Tổ chức Forest Trends trong trao đổi với Báo Chính phủ.

Dấu chân carbon (carbon footprint) là tổng lượng khí nhà kính do một sản phẩm, hoạt động hoặc doanh nghiệp gây ra, thường được quy đổi về CO₂ tương đương (CO₂e). Với ngành cao su, không chỉ tính lượng carbon cây cao su hấp thụ, mà phải nhìn vào toàn bộ quá trình tạo ra một đơn vị sản phẩm: sử dụng phân bón, nhiên liệu, điện, máy móc, vận chuyển, chế biến... Nếu những hoạt động này phát thải nhiều thì dấu chân carbon của sản phẩm cao; nếu giảm được các nguồn phát thải đó thì dấu chân carbon giảm.

Cái nhìn thực tế về tiềm năng tín chỉ carbon của ngành cao su

Trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết yêu cầu về phát thải và chuỗi cung ứng bền vững, ngành cao su Việt Nam cần thay đổi để duy trì và nâng giá trị xuất khẩu. 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 789.500 tấn cao su, trị giá 1,55 tỷ USD.

Cao su là cây trồng dài ngày, có khả năng hấp thụ carbon, nên được kỳ vọng có thể tham gia thị trường tín chỉ carbon. Tuy nhiên, theo TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách thương mại lâm sản, Forest Trends, doanh nghiệp không nên đặt kỳ vọng quá lớn vào nguồn thu này.

Phần lớn diện tích cao su hiện đã phát triển ổn định, khiến việc bổ sung các hoạt động để tạo tín chỉ carbon chất lượng cao, kèm lợi ích về đa dạng sinh học hay sinh kế cộng đồng, không dễ thực hiện. Chi phí đo đạc, thẩm định và vận hành dự án cũng có thể lớn, trong khi nguồn thu từ tín chỉ chưa chắc đủ hấp dẫn.

Theo TS. Phúc, hướng đi thực tế hơn là giảm dấu chân carbon của từng đơn vị sản phẩm. Dấu chân carbon phản ánh tổng lượng khí nhà kính phát sinh trong quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định các nguồn phát thải từ vật tư, phân bón, nhiên liệu, điện, chế biến và vận chuyển để từng bước giảm phát thải.

Lợi ích không chỉ nằm ở môi trường. Khi các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là EU, ngày càng yêu cầu sản phẩm có chuỗi cung ứng minh bạch và phát thải thấp, việc chứng minh dấu chân carbon thấp có thể trở thành lợi thế cạnh tranh.

"Sản phẩm có dấu chân carbon thấp luôn đem lại giá trị thương hiệu và lợi thế cạnh tranh tốt cho doanh nghiệp", TS. Phúc nói.

TS. Tô Xuân Phúc cho rằng ngành cao su nên coi tín chỉ carbon là một công cụ hỗ trợ, thay vì mục tiêu chính. Giảm phát thải, đo lường được dấu chân carbon và biến kết quả đó thành giá trị của sản phẩm mới là hướng đi bền vững để nâng sức cạnh tranh và giá trị xuất khẩu cao su Việt Nam.

Sự chuẩn bị của doanh nghiệp và vai trò của quản trị dữ liệu

Một trong những băn khoăn của doanh nghiệp, trong đó có Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO), là cơ sở pháp lý đối với diện tích cao su trồng trên đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm khi tham gia các dự án carbon.

Theo TS. Tô Xuân Phúc, doanh nghiệp có thể áp dụng mô hình canh tác nông lâm kết hợp (Agroforestry) đối với diện tích cao su trên các loại đất này. Nghị định 180/2026/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai, do đó doanh nghiệp không gặp trở ngại lớn về mặt pháp lý khi xây dựng dự án.

Với những doanh nghiệp sở hữu diện tích lớn, TS. Phúc cho rằng có thể nghiên cứu triển khai dự án ở quy mô tập đoàn thay vì thực hiện riêng lẻ. Cách làm này giúp chia sẻ chi phí tư vấn, đo đạc và thẩm định. Tuy nhiên, các đơn vị thành viên phải thống nhất phương pháp quản lý và các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm tính đồng bộ.

Bên cạnh pháp lý, dữ liệu là nền tảng để doanh nghiệp chứng minh giá trị carbon của sản phẩm. Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, DONARUCO, cho biết doanh nghiệp đã tích lũy nhiều năm dữ liệu về từng lô cao su, tuổi cây, giống và lượng phân bón sử dụng. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), đồng thời xác định dấu chân carbon trong quá trình sản xuất.

TS. Phúc khuyến nghị doanh nghiệp chủ động chuẩn hóa dữ liệu theo quy định để sẵn sàng tham gia thị trường carbon. Quan trọng hơn, những dữ liệu này không chỉ phục vụ việc xây dựng dự án tín chỉ mà còn giúp doanh nghiệp chứng minh mức phát thải và tính minh bạch của sản phẩm khi xuất khẩu.

Theo TS. Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, thị trường carbon là một trong những công cụ hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu NDC và Net Zero.

Tuy nhiên, để thị trường vận hành hiệu quả, các chuyên gia cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật, đặc biệt là xây dựng hệ số sinh khối phù hợp với cây cao su. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đo đạc, nâng độ chính xác khi tính toán và tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Với ngành cao su, mục tiêu cuối cùng không nên chỉ là tạo ra tín chỉ carbon, mà là giảm dấu chân carbon trên mỗi đơn vị sản phẩm và biến kết quả đó thành lợi thế thương mại. Khi doanh nghiệp có dữ liệu minh bạch về phát thải, sản phẩm cao su sẽ có thêm cơ sở để đáp ứng yêu cầu của các thị trường quốc tế và nâng giá trị xuất khẩu.

Đỗ Hương