In bài viết

Kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri và đại biểu HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 15, HĐNN tỉnh khóa XV

Nội dung 1: Việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, đất ở nông thôn còn chậm.

18/10/2010 22:08
Nội dung 1: Việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, đất ở nông thôn còn chậm. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp: Nhìn chung, tiến độ cấp giấy chứng nhận QSD đất lâm nghiệp trong thời gian qua là đạt yêu cầu. Nguyên nhân chậm mà cử tri phản ánh là do UBND tỉnh có Quyết định số 482/QĐ-UBND ngày 05/3/2007 về việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã làm phát sinh thêm quỹ đất lâm nghiệp cần giao, chủ yếu là điều chỉnh từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất. Hiện tại hầu hết các huyện chưa thực hiện rà soát xong phần diện tích trước đây là rừng phòng hộ nay chuyển thành rừng sản xuất. Giải pháp: UBND tỉnh yêu cầu các huyện khẩn trương thực hiện công tác rà soát; Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh chính sách để giải quyết dứt điểm việc giao đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất lâm nghiệp trong thời gian tới. Đối với công tác cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất nông nghiệp và đất ở nông thôn: Năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 138 xã triển khai thực hiện đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhìn chung, tiến độ thực hiện chậm, kết quả đạt được chưa cao. Nguyên nhân là do hầu hết các huyện đều lúng túng trong việc triển khai công tác cấp đổi giấy chứng nhận; Năng lực cán bộ của một số đơn vị cấp huyện, cấp xã còn hạn chế; Sự đầu tư của các đơn vị tư vấn chưa thỏa đáng, thiếu kinh nghiệm. Giải pháp: UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện trích ngân sách theo quy định để thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất cho nhân dân và tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác đo đạc lập bản đồ địa chính phục vụ cho việc cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất. Nội dung 2: Quản lý đất đai ở các lâm trường còn bất cập dẫn đến tình trạng nhân dân không có đất sản xuất (ở các huyện Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp,...) Nhìn chung, công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Tình trạng chặt phá rừng, khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng không xảy ra ồ ạt, gây điểm nóng như ở một số tỉnh; Độ che phủ rừng toàn tỉnh đã tăng từ 36% năm 1999 lên 51,6% vào năm 2008. Tuy vậy, việc quản lý đất lâm nghiệp vẫn còn một số bất cập gây bức xúc cho nhân dân một số địa phương tại các huyện Anh Sơn, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quế Phong. Nguyên nhân là do nhu cầu đất đai của nhân dân tăng do tăng dân số cơ học, đất đai lâm nghiệp ngày càng có giá trong cơ chế thị trường nên quản lý phức tạp, khó khăn; Năng lực quản lý của các chủ rừng, địa phương còn hạn chế, trách nhiệm quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp của chính quyền địa phương chưa cao... UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT chỉ đạo các lâm trường, công ty lâm nghiệp chủ động phối hợp với chính quyền địa phương (nhất là cấp xã) để rà soát kịp thời, báo cáo UBND tỉnh để có phương án xử lý đúng quy định. Nội dung 3: Cử tri Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Yên Thành phản ánh một số cán bộ lợi dụng chức vụ sử dụng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lâm nghiệp của nhân dân để vay vốn ngân hàng. Tại huyện Tân Kỳ: Kết quả kiểm tra cho thấy không có trường hợp nào cán bộ lợi dụng chức vụ quyền hạn sử dụng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lâm nghiệp của nhân dân để vay vốn ngân hàng. Tại huyện Yên Thành: Qua kiểm tra thực tế các xã có đất lâm nghiệp thì có 5 xã Đồng Thành, Hùng Thành, Phúc Thành, Mã Thành và Tân Thành bị lôi kéo tham gia vụ việc lừa đảo của Công ty Quý Nhân - chạy dự án trồng rừng thuộc nguồn vốn phi Chính phủ với số lượng sổ đỏ đã thu gom và chuyển cho Công ty Quý Nhân là 2.009 bìa đỏ, lâm bạ xanh và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện Yên Thành đã chỉ đạo phòng NN&PTNT, Hạt Kiểm lâm huyện hướng dẫn các xã có tham gia vụ việc nói trên trực tiếp Công ty Quý Nhân để làm việc và cơ bản đã lấy lại gần hết sổ đỏ cho dân. Chủ tịch UBND huyện Yên Thành đã tổ chức họp kiểm điểm Chủ tịch UBND 05 xã nêu trên. Tại huyện Quỳ Hợp: Việc thu gom bìa đất có xảy ra trên địa bàn huyện do Công ty TNHH Huệ Anh tổ chức thu gom, nhưng không có việc cán bộ lợi dụng chức quyền để thực hiện việc này. Khi phát hiện có dấu hiệu lừa đảo. UBND huyện đã kịp thời chỉ đạo xử lý ổn định tình trạng nêu trên. Nội dung 4: Ô nhiễm môi trường vẫn chưa được các ngành chức năng quan tâm giải quyết triệt để như các nhà máy tinh bột sắn; Công ty cổ phần bia Sài Gòn Nghệ Tĩnh; mỏ đất đá tại xã Nghi Yên, Nghi Lộc; Nhà máy xi măng Hoàng Mai; Bến Lạch Quèn; các kho thuốc trừ sâu trước đây gây ra tại các xã Nghĩa Trung, Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Đàn; Phường Quang Tiến thị xã Thái Hòa, Anh Sơn, các lò giết mổ gia súc tại xã Nghi Phú, TP Vinh. Tại Nhà máy bia Sài Gòn - Nghệ An: Trong quá trình hoạt động, Nhà máy bia Sài Gòn - Nghệ An đã gây ô nhiễm môi trường kéo dài ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân tại phường Trường Thi, Hưng Dũng, thành phố Vinh, dẫn đến xẩy ra các vụ khiếu kiện đông người. Cụ thể: Hệ thống xử lý nước thải của nhà máy được xây dựng xong từ tháng 8/2008 nhưng đến nay hoạt động vẫn chưa đạt tiêu chuẩn môi trường, chưa đáp ứng được công suất của nhà máy, các chỉ tiêu trong nước thải hầu hết đều vượt tiêu chuẩn cho phép, hệ thống xử lý và nước thải của nhà máy bia gây hôi thối ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Mặc dù UBND tỉnh đã thực hiện xử phạt vị phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Quyết định số 4115/QĐ-UBND.ĐC ngày 21/8/2009) nhưng Nhà máy chưa nghiêm túc và triệt để, cụ thể như: có thu gom chất thải nguy hại nhưng chưa nghiêm túc; chưa có biện pháp xử lý triệt để mùi hôi phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải....; chưa lập đề án bảo vệ môi trường đối với Dự án mở rộng, nâng công suất nhà máy bia; chưa lắp đặt hệ thống đo lưu lượng và quan trắc liên tục, đo tự động một số thông số ô nhiễm môi trường đặc trưng trong nước thải; chưa nộp khoản truy thu về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, với tổng số tiền là 1.088.000.000 đồng... Giải pháp: UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan yêu cầu Nhà máy bia Sài Gòn - Nghệ An thực hiện nghiêm túc Quyết định số 4115/QĐ-UBND. ĐC. Tại mỏ đất đá Rú Rím, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc: Tổng công ty Hợp tác kinh tế Việt - Lào được UBND tỉnh cấp phép khai thác đất san lấp tại rú Rím, xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc theo Quyết định số 59/QĐ-UBND. ĐC ngày 13/02/2006, thời hạn khai thác đến hết tháng 02/2009, tuy nhiên đến nay Tổng công ty vẫn chưa thực hiện đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường khu vực mỏ đã khai thác. Đồng thời chưa hoàn thành việc nộp tiền ký quỹ phục hồi môi trường (mới chỉ nộp đợt 1 179.467.000 đồng; chưa nộp đợt 2 và đợt 3 với tổng số tiền là 238.430.000 đồng). Hiện tại, việc khai thác mỏ đất rú Rím đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của người dân dưới chân rú Rím. UBND tỉnh yêu cầu Tổng công ty Hợp tác Kinh tế Việt Lào thực hiện đóng cửa mỏ, phục hồi môi trường của tại khu vực mỏ rú Rím: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND huyện Nghi Lộc giám sát và tham mưu UBND tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật. Tại Nhà máy xi măng Hoàng Mai: Nhà máy đã có những biện pháp bảo vệ môi trường tốt, quản lý chất lượng môi trường theo tiêu chuẩn ISO, như: Biện pháp kiểm soát bụi; kiểm soát tiếng ồn, Rung; kiểm soát nước thải; kiểm soát chất thải; kiểm soát phóng xạ và các biện pháp hỗ trợ khác; Đã thực hiện các thủ tục hồ sơ về môi trường. Tuy nhiên, tại một số thời điểm khi có sự cố mất nguồn điện lưới quốc gia, hoạt động của nhà máy gây ô nhiễm bụi, ảnh hưởng đến đời sống người dân xung quanh. UBND tỉnh yêu cầu Nhà máy xi măng Hoàng Mai có giải pháp hoàn thiện hệ thống giảm bụi tại khu vực nghiền và đóng bao; thu dọn vệ sinh tại các điểm chứa Clinker sau khi sử dụng để khắc phục tình trạng nói trên. Tại Cảng cá Lạch Quèn, xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu: Cảng cá Lạch Quèn hiện chỉ có 5 doanh nghiệp đầu tư sản xuất/kinh doanh có bể thu gom xử lý nước thải tự hoại tập trung còn lại các cơ sở sản xuất và kinh doanh khác chưa đảm bảo chất lượng môi trường nước thải đầu ra, gây ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân là do Ban quản lý Cảng cá Nghệ An chưa có quy định bảo vệ môi trường bắt buộc doanh nghiệp thực hiện khi đầu tư vào Cảng cá Lạch Quèn; chưa thực hiện các hồ sơ và thủ tục về môi trường; Các Công ty chưa thực hiện đúng các nội dung như đã cam kết trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường/bản kê khai các hoạt động sản xuất có ảnh hưởng tới chất lượng môi trường của Công ty. UBND tỉnh yêu cầu Ban quản lý Cảng cá Nghệ An chủ trì lập Đề án bảo vệ môi trường Cảng cá Lạch Quèn trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; xây dựng quy định bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp đầu tư vào Cảng cá Lạch Quèn; UBND huyện Quỳnh Lưu phối hợp với Ban quản lý Cảng cá Nghệ An, UBND xã Quỳnh Thuận đôn đốc kiểm tra các cơ sở sản xuất/kinh doanh thực hiện việc bảo vệ môi trường theo quy định. Ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật: Thông qua việc thực hiện Đề án "Điều tra, đánh giá phạm vị, mức độ ô nhiễm môi trường các điểm tồn dư thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Nghệ An và đề xuất biện pháp xử lý" đã phát hiện được 913 địa điểm tồn lưu thuốc BVTV trên 19 huyện, thành, thị, trong đó 277 điểm đã được lấy mẫu đánh giá mức độ ô nhiễm, các điểm còn lại chưa được lấy mẫu đánh giá. Nhìn chung, việc xử lý các điểm ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật chậm tiến độ, chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân là do: Các đơn vị được giao xử lý các điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực còn lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn đơn vị tư vấn, đơn vị xử lý ô nhiễm, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan để tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình thực hiện; Nhân dân tại các khu vực bị ô nhiễm chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý như: di dời sang địa điểm mới, đền bù giải phóng mặt bằng... Giải pháp xử lý các khu vực bị ô nhiễm thuốc BVTV: - Tại xã Đồng Thành, huyện Yên Thành: UBND tỉnh giao UBND huyện Yên Thành khẩn trương lập quy hoạch khu tái định cư đối với 91 hộ dân nằm trong phạm vị phải di dời; - Tại xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn: Giao UBND huyện Nghĩa Đàn khẩn trương lập đề án giải phóng mặt bằng để tiến hành xử lý. - Đối với các điểm ô nhiễm khác: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 đề án Điều tra, thống kê, đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm các điểm tồn dư thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Nghệ An và đề xuất phương án xử lý để đánh giá phạm vị, mức độ ô nhiễm: Tổ chức khoanh vùng các điểm tồn dư thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh; - Giao Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí hàng năm để xử lý các điểm tồn dư thuốc BVTV. Ô nhiễm môi trường tại các lò giết mổ gia súc xã Nghi Phú, TP Vinh: Xã Nghi Phú có khoảng 200 hộ gia đình giết mổ lợn, 30 hộ giết mổ trâu bò tại nhà; 1 lò giết mổ lợn và 1 lò giết mổ trâu bò tập trung. Hiện tại, lò mổ lợn chưa đi vào hoạt động. Các lò mổ được quy hoạch trong khu dân cư, cách hộ dân gần nhất khoảng 50m, chưa có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo vệ sinh môi trường; chưa có mương thoát nước thải; chưa có quy hoạch nguồn tiếp nhận nước thải từ các lò mổ và các hộ giết mổ gia súc tại nhà. Các hộ giết mổ gia súc tại nhà thải trực tiếp ra khu vực xung quanh, không có biện pháp vệ sinh môi trường; nước thải từ lò mổ gia súc tập trung được chứa tại bể phối, có dung tích 135m3, nếu lò mổ hoạt động tối đa công suất thì bể phối không đáp ứng được, gây mùi khó chịu, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và các hộ dân sống xung quanh. UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường đôn đốc, hướng dẫn các chủ lò mổ lập Đề án Bảo vệ môi trường, làm thủ tục cấp phép khai thác nước ngầm và xả nước thải theo quy định; Giao UBND thành phố Vinh thực hiện nghiêm việc quản lý giết mổ gia súc tập trung; triển khai xây dựng mương thoát nước thải và quy hoạch nguồn tiếp nhận nước thải từ các lò mổ tại xã Nghi Phú; có biện pháp cung cấp nước sạch cho người dân xã Nghi Phú; Giao Sở Y tế lấy mẫu nước sinh hoạt tại xã Nghi Phú, xác định rõ mức độ ô nhiễm, phối hợp với các đơn vị liên quan để có biện pháp xử lý, đảm bảo môi sinh cho các hộ dân. Nội dung 5: Tình trạng khai thác khoáng sản không đúng quy định vẫn còn tiếp diễn ở dọc hai bờ sông Lam, sông Hiếu, bản Thạch Tiến, xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông và huyện Quỳ Châu... Tình trạng khai thác khoáng sản ở dọc hai bờ sông Lam, sông Hiếu: Về cơ bản các doanh nghiệp được cấp giấy phép đã khai thác đảm bảo môi sinh môi trường, giữ gìn trật tự an ninh xã hội...Tuy nhiên việc hoàn trả mặt bằng và đảm bảo môi trường sau khai thác tiến hành còn chậm, còn có tình trạng khai thác ra ngoài các khu vực được cấp phép làm ảnh hưởng đến giao thông đường thủy, thay đổi dòng chảy,... Các cơ quan chức năng đã kiểm tra, xử lý và chấn chỉnh kịp thời các trường hợp vi phạm như đình chỉ hoạt động đối với tàu hoạt động trong khu vực khai thác trái phép, xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động khai thác trái phép. Giải pháp: UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan cùng chính quyền địa phương thường xuyên giám sát các hoạt động khai thác vàng sa khoáng, phát hiện kịp thời các sai phạm và xử lý đúng theo quy định; tiếp tục cấp phép đối với các doanh nghiệp khai thác cát sỏi lòng sông đã lập thủ tục hồ sơ khai thác đối với các khu vực đã được điều tra đánh giá; Đối với các khu vực chưa được điều tra thăm dò trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh giao Sở Xây dựng xây dựng quy hoạch điều tra đánh giá tiềm năng khoáng sản cát, mức độ sạt lở, trữ lượng khai thác cho phép, điều kiện khai thác... Tnh trạng khai thác quặng sắt limonít tại bản Thạch Tiến, xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông: Đây là khu vực thường xuyên xảy ra nạn khai thác trái phép dưới hình thức lợi dụng việc cải tạo đất trồng mía, hoặc làm đường giao thông nông thôn. UBND tỉnh đã cấp giấy phép khai thác cho Công ty TNHH Thiên Phú Đức Tiến (Quyết định số 3805/QĐ-UBND.ĐC ngày 03/9/2008) với thời hạn 05 năm. Doanh nghiệp đã tiến hành ký quỹ phục hồi môi trường và giải quyết đền bù cho người dân. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, Công ty TNHH Thiên Phú Đức Tiến đã gây ảnh hưởng môi trường khu vực khai thác. Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với UBND huyện Con Cuông lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt hành chính đối với những sai phạm của Công ty này, yêu cầu chính quyền địa phương giám sát khu vực mỏ, nghiêm cấm việc doanh nghiệp khai thác trái quy định. Nội dung 6: Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị nhiều nơi chưa hợp lý; công tác quy hoạch còn chồng chéo; nhiều đơn vị được giao đất để thực hiện dự án nhưng không triển khai, hoặc triển khai rất chậm; sử dụng trái mục đích gây lãng phí như: Dự án bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên gắn với phát triển văn hóa, du lịch; Dự án quần thể lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, dự án chợ đầu mối nông sản Nghi Lộc, dự án Hồng Thái Sit; Dự án đường ven sông Lam, hồ khe Lợi, hồ sông Sào, Dự án trụ sở làm việc kiêm Trung tâm điều hành khách tham quan của Công ty cổ phần kinh doanh bãi Lữ, Văn phòng chi nhánh Intimex tại Nghệ An, Tổng Công ty lắp máy LILAMA dự án trụ sở văn phòng và Salon ô tô, dự án trụ sở làm việc kiêm nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm và nhà xưởng lắp đặt dụng cụ quảng cáo của chủ đầu tư công ty TNHH Quảng cáo trẻ; Dự án trưng bày, bán ô tô và dụng cụ ô tô Huyndai... 1 . Theo quy hoạch đến năm 2020 Nghệ An có 10 KCN (kể cả 2 KCN trong KKT Đông Nam) với tổng diện tích trên 4 nghìn ha. Việc thành lập các KCN mới đều tuân thủ theo quy định của Nhà nước (không thành lập đồng loạt, mà tuần tự phụ thuộc tiến độ lấp đầy các KCN). Hồ sơ quy hoạch đều có sự thống nhất của địa phương nơi có KCN và được thông qua hội đồng QH kiến trúc tỉnh trước khi thẩm định, phê duyệt; không có sự chồng chéo giữa các KCN. Về các KCN nhỏ và tiểu thủ công nghiệp: Hiện tại các KCNN ở các thành phố, thị xã và các huyện thuộc tỉnh đều cơ bản được lấp đầy và hoạt động tốt, giải quyết được việc làm cho nhiều lao động và đóng góp cho ngân sách địa phương; việc lập, thẩm định, phê duyệt KCNN thực hiện đúng quy định của pháp luật, không chồng chéo. 2. Về các khu đô thị: - Trên địa bàn thành phố Vinh hiện có 18 khu quy hoạch đô thị mới và khu nhà ở đã được phê duyệt với diện tích khoảng gần 240 ha. Nhìn chung các khu đô thị mới, khu nhà ở được xây dựng đồng bộ, văn minh, góp phần tạo nên diện mạo mới cho đô thị, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên nhiều dự án tiến độ thực hiện chậm so với cam kết, một số dự án có xu hướng chuyển sang nhà liền kề, nhà biệt thự (tuy nhiên vẫn bảo đảm tỉ lệ diện tích sàn nhà ở chung cư trong dự án theo quy định của Luật nhà ở). Nguyên nhân: - Một số nhà đầu tư có năng lực hạn chế; - Sức mua nhà ở và thị hiếu mua nhà chung cư ở thị trường Nghệ An chưa cao; - Công tác GPMB còn chậm. Biện pháp khắc phục: - Thẩm định kỹ năng lực của các nhà đầu tư; - Tăng cường công tác GPMB; - Tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc, kiên quyết thu hồi các dự án nhà đầu tư triển khai chậm mà đã được nhắc nhở; - Sớm ban hành suất đầu tư. Nội dung 7: Công tác giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn nhiều bất cập, một số nơi nhân dân chưa đồng tình dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài: - Dự án Nhà máy xi măng Đô Lương: Hội đồng bồi thường GPMB huyện Đô Lương đã thực hiện hoàn chỉnh hồ sơ, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Tuy nhiên còn có 44 hộ gia đình thuộc diện tái định cư do nằm trong phạm vi tác động môi trường của Nhà máy chưa được bố trí đất tái định cư. Hiện tại UBND tỉnh đã phê duyệt phương án tái định cư cho 08 hộ, 36 hộ còn lại UBND tỉnh đã chỉ đạo Công ty Cổ phần Xi măng Đô Lương tham mưu hướng xử lý (Công văn số 2010/UBND.ĐT). Hiện tại quy hoạch khu tái định cư cho các hộ nói trên đã được phê duyệt và đang thi công san lấp xây dựng cơ sở hạ tầng. UBND tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo UBND huyện Đô Lương giải quyết dứt điểm vấn đề này. - Huyện Thanh Chương: Dự án đường Hồ Chí Minh (đoạn qua xã Thanh Dương): UBND tỉnh đã giao UBND huyện Thanh Chương rà soát, bố trí đất ở tái định cư cho 11 hộ phải di chuyển do công tác GPMB. Đến nay huyện Thanh Chương đã thực hiện xong việc cấp đất tái định cư cho các hộ nói trên. - Dự án nâng cấp Quốc lộ 7A đoạn qua xã Bồng Khê - Thị trấn Huyện Con Cuông có 776 hộ dọc 2 bên đường bị ảnh hưởng do công tác GPMB. Hiện nay, UBND huyện Con Cuông đã phê duyệt và tiến hành chi trả được 463 hộ với tổng giá trị hỗ trợ đền bù: 8.817.000.000 đồng. Trên tuyến cơ bản đã giải phóng và bàn giao mặt bằng thi công, chỉ còn đoạn qua thôn Lam Bồng xã Bồng Khê và đoạn qua khối 4 và 12 hộ ở khối 2 Thị Trấn. Một số vướng mắc là do các hộ ở trước thời điểm năm 1982 chính quyền đã thu hồi đất theo Nghị định 36 của Chính phủ, nay các hộ yêu cầu đền bù cả diện tích đất đã thu hồi theo Nghị định 36. Hiện nay, UBND tỉnh đang chỉ đạo UBND huyện Con Cuông tuyên truyền vận động để nhân dân hiểu và rà soát xác định nguồn gốc đất ở của một số hộ thôn Lam Bồng, khối 4, khối 2 thuộc Thị Trấn Con Cuông để áp giá chi trả bồi Thường GPMB xong trong năm 2009. - Dự án quốc lộ 7A (đoạn qua thị trấn Hòa Bình, huyện Tương Dương): Công tác bồi thường GPMB đã cơ bản hoàn thành vào tháng 11/2008, đến nay chỉ còn 01 hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Công, trú tại Khối Hòa Đông, thị trấn Hòa Bình vẫn chưa chịu bàn giao mặt bằng để thi công hành lang đi bộ và có đơn khiếu nại gửi nhiều cơ quan. UBND huyện Tương Dương đã thành lập nhiều đoàn về kiểm tra và giải khiếu nại của ông Nguyễn Tiến Công, đồng thời báo cáo các cơ quan chức năng, và trả lời các cơ quan báo chí. Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ của hộ gia đình Nguyễn Tiến Công được lập năm 2008, với tổng số kinh phí là 27.633.600 đồng. Hội đồng Bồi thường - GPMB huyện và UBND Thị trấn Hòa Bình đã 03 lần mời hộ gia đình ông Công lên để nhận tiền bồi thường nhưng gia đình vẫn không chịu nhận, Hội đồng bồi thường - GPMB huyện đã mở tài khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện Tương Dương để gửi số tiền bồi thường của gia đình ông vào tài khoản theo đúng quy định. Việc ông Nguyễn Tiến Công yêu cầu được bồi thường đất trong hành lang ATGT theo Nghị định 36/CP là không hợp pháp vì tại Quyết định cấp đất số 19 QĐ/UB ngày 06/01/1994 của UBND huyện Tương Dương đã ghi rõ phía Nam giáp Quốc lộ 7A, cách lề đường 7m (đã trừ hành lang ATGT 7m). - Dự án sông Quàng ở xã Châu Thôn, huyện Quế Phong: UBND huyện Quế Phong đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho các hộ có đất bị thu hồi. Tổng diện tích đất thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng bao gồm: 477.647,2m2 (trong đó diện tích đất nông nghiệp 436.568,8m2, đất giao thông 76.363,0m2, đất sông suối 40.949,0m2), với tổng kinh phí bồi thường là 2.291.525.600,0 đồng. Đối với diện tích đất của 06 hộ dân ngoài phạm vị GPMB bị ảnh hưởng do quá trình thi công (đất đá vùi lấp một số diện tích ruộng lúa, hoa màu và một số công trình), UBND huyện Quế Phong đã tổ chức khảo sát thực địa và đang tiến hành lập phương án bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền chi trả 110 triệu đồng. Nội dung 8: Tình trạng trạm thu phí giao thông đặt tại nội thị trấn Đô Lương bất hợp lý, vị phạm pháp luật nhưng cử tri kiến nghị nhiều lần đến nay chưa được khắc phục. Trạm phụ thu phí tại Thị trấn Đô Lương được thành lập theo Quyết định số 3082/2003/QĐ.BGTVT ngày 20/10/2003 của Bộ GTVT nhằm mục đích chống thất thu tại Trạm chính ở Km18 - QL7 và điều tiết lưu lượng xe trên QL15 và QL46, khi lập trạm phụ thu này đã có sự thống nhất của địa phương, việc đặt trạm thu phí tại đây thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước. Hiện nay, Quy hoạch thị trấn Đô Lương đã được mở rộng, nên vị trí Trạm thu phí nằm ở Trung tâm của đô thị, dẫn đến một số vấn đề bất cập trong việc phát triển đô thị và đi lại của nhân dân trong vùng. Bên cạnh đó Trạm thu phí tại Km18 - QL7 nằm trong quy hoạch thị trấn Vân Tụ (Yên Thành) cũng ảnh hưởng đến việc phát triển đô thị. Nên, việc di dời 2 trạm thu phí này sang vị trí phù hợp là cần thiết. Vừa qua, Sở GTVT đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản số 7658/UBND-CN ngày 13/11/2009 đề nghị Bộ GTVT, Cục Đường bộ Việt Nam kết hợp với dự án nâng cấp QL7 đoạn Đô Lương - Diễn Châu (sẽ khởi công vào đầu năm 2010) để bố trí lại Trạm thu phí chính ở vị trí hợp lý trên QL7 và chỉ đặt một Trạm thu phí và không để trạm phụ thu nữa. Hiện nay, Sở GTVT đang phối hợp cùng các Sở, ngành liên quan làm việc với các Bộ GTVT để giải quyết kiến nghị của cử tri. Nội dung 9: Khu tái định cư Thủy điện bản Vẽ mặc dù đã được đề xuất nhiều nhưng chất lượng của một số công trình như nhà ở, nước sinh hoạt bố trí đất sản xuất chưa được khắc phục; Công tác tổ chức sản xuất, định hướng sản xuất còn bất cập dẫn đến đời sống của nhân dân vùng tái định cư còn nhiều khó khăn. 1 . Các công trình xây dựng trên công trường tái định cư đều được thi công và giám sát chất lượng theo đúng quy định đảm bảo chất lượng. Nhiều hạng mục đã được kiểm tra qua các đợt kiểm tra của Sở Xây dựng, Tập đoàn Điện Lực Việt Nam, Bộ Công thương, Đoàn Giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên trong quá trình thi công, bàn giao và đưa vào sử dụng vẫn còn một số tồn tại và đã được khắc phục như sau: - Hệ thống giao thông liên vùng được thiết kế theo tiêu chuẩn đường giao thông miền núi cấp V, VI với tải trọng thiết kế H13. Trong quá trình vận hành sử dụng thì có rất nhiều phương tiện có tải trọng lớn hơn tải trọng thiết kế đi qua (xe chở gỗ của dân, xe khai thác lâm sản) đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như tuổi thọ của công trình. Về vấn đề UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Thanh Chương thực hiện biện pháp hạn chế, cấm các phương tiện quá tải lưu thông trên hệ thống. - Các hệ thống nước sinh hoạt khi thi công xong đều được bàn giao cho bản, chính quyền địa phương quản lý vận hành. Tuy vậy vẫn còn một số khu nước cấp chưa đầy đủ, do các công trình đã được bàn giao đưa vào sử dụng nhưng bộ máy quản lý sử dụng chưa có tổ chức cụ thể để đảm bảo vận hành, ý thức của người dân TĐC sử dụng thiếu trách nhiệm để nước chảy tự do lãng phí, do một số đối tượng phá hoại ăn cắp đường ống, cộng thêm ảnh hưởng của thiên tai lũ quét trên địa bàn Thanh Chương. UBND tỉnh đã yêu cầu chủ đầu tư mời các đơn vị tư vấn có năng lực tiến hành khảo sát lập phương án xử lý và giao cho các nhà thầu để triển khai khắc phục từng bước các tồn tại nêu trên. - Về các công trình nhà ở, công trình công cộng: trên thực tế sau khi thực hiện xong các hạng mục này thì một thời gian dài sau mới có người sử dụng. Với địa bàn rộng các nhà thầu khó bảo vệ được tài sản nên nhiều công trình bị phá hỏng (ngói vỡ, vôi ve bạc màu, kính vỡ. Ban QLDA Thủy điện 2 đã tiến hành khắc phục những hư hỏng nói trên cho đồng bào. 2. Công tác chia đất sản xuất được thực hiện theo Quy định tạm thời về bồi thường, di dân và tái định cư dự án thủy điện Bản Vẽ. Hiện nay công tác chia và giao đất sản xuất cho đồng bào TĐC đã thực hiện được như sau: Các khu TĐC ở huyện Kỳ Sơn: Các hộ tái định cư đã chuyển đến và ổn định cuộc sống từ hơn 2 năm nay. Các khu TĐC ở huyện Tương Dương: Các hộ tái định cư đã chuyển đến 6 khu TĐC, gồm có khe Ò, khe Chống, khe Cò Kẽn, Văng Môn, bản Chon và Khe Quỳnh. Chỉ riêng khu TĐC khe Quỳnh đang triển khai chia đất cho dân, còn lại các hộ dân đã ổn định cuộc sống từ hơn 4 năm nay. Các khu TĐC ở huyện Thanh Chương: Tình trạng giao đất sản xuất chậm không phải do Ban QLDA thủy điện 2 không tiến hành giao. Thực tế trên khu vực TĐC Ban đã chỉ đạo Tư vấn chia đất luôn túc trực 7 tổ giao đất hiện trường (hơn 20 người) để khi dân về là tiến hành giao đất, nhưng tiến độ giao đất rất chậm, các nguyên nhân cụ thể như sau: - Chính quyền xã Hạnh Lâm (cũ) phối hợp chưa tốt với Ban QLDA thủy điện 2 để giải quyết các vướng mắc. Chính quyền xã Thanh Sơn mới thành lập từ tháng 6/2009 nên công tác chỉ đạo còn lúng túng. - Do các hộ dân ở một số bản di chuyển về khu TĐC chậm nên việc tiến hành họp dân để triển khai công tác chia đất chưa thể triển khai. Công việc giao đất sản xuất chỉ tiến hành khi đã có hơn 70% số hộ về mới giao được. - Các khu TĐC 3, 4, 5, 6 hộ dân đã được giao đất sản xuất từ năm 2006 nhưng không trồng trên đất đã được giao, mà tự lấn chiếm, phát xẻ sang đất đã quy hoạch của khu khác khi dân chưa về hoặc về chưa đủ để trồng cây. Một số hộ dân sở tại đã được bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản nhưng không chịu bàn giao mặt bằng mà vẫn ở lại chiếm dụng đất để sản xuất, cụ thể: Các hộ dân khu 14A (95 hộ) không chịu nhận đất sản xuất với 2 lý do chính, thứ nhất không nhận phần đất sản xuất do ban quản lý dự án thủy điện 2 khai hoang, thứ hai chỉ nhận đất khi Ban quản lý dự án thủy điện 2 lấy thêm phần đất rừng nằm ngoài mốc quy hoạch khu TĐC. Nội dung 10: Tình trạng quá tải tại Bệnh viện Đa khoa Nghệ An, Bệnh viện Nội tiết và một số bệnh viện tuyến huyện; Tình trạng chậm tiến độ xây dựng bệnh viện 700 giường bệnh. Tiến độ xây dựng bệnh viện 700 giường bệnh: Đến tháng 11/2009 , đã xây dựng xong một số công trình: Bờ rào bao quanh, Nhà dinh dưỡng, Nhà giải phẫu,... Hiện đang tích cực thi công xây dựng Khối nhà chính 7 tầng, dự kiến đến năm 2012 hoàn thành đưa vào sử dụng. Tích trạng quá tải tại các bệnh viện: Tình trạng quá tải ở một số bệnh viện hiện nay là thực tế, ở tuyến tỉnh như: Bệnh viện Nhi, Bệnh viện HNĐK tỉnh, Bệnh viện YHCT, Bệnh viện Tâm Thần,... và ở một số bệnh viện tuyến huyện như: Nghi Lộc, Diễn Châu, Đô Lương,... Nguyên nhân quá tải: - Kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu KCB của người dân ngày càng cao; - Tỷ lệ và số người tham gia BHYT ngày càng cao, điều kiện để cho người dân đến khám chữa bệnh ngày càng thuận lợi nên số người đến khám chữa bệnh bằng BHYT ngày càng nhiều. - Tâm lý muốn được khám chữa bệnh ở tuyến trên, ở các bệnh viện có uy tín, có nhiều trang thiết bị y tế mới, hiện đại; - Chỉ tiêu giường bệnh trên 1 vạn dân ở tỉnh ta còn thấp: Nghệ An đạt 14,8 giường/vạn dân năm 2008; bình quân chung toàn quốc là: 17 giường/vạn dân; - Cơ sở vật chất các bệnh viện còn hạn chế bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu; - Trang thiết bị y tế còn thiếu nhiều, đặc biệt các bệnh viện huyện; - Nhiều loại bệnh tật có gia tăng: Nội tiết, Tim mạch, chấn thương,... Các giải pháp giảm quá tải: - Các bệnh viện tăng cường tổ chức KCB ngoài giờ, ngày nghỉ. - Tăng cường bác sỹ cho tuyến cơ sở (trạm y tế xã, phường, thị trấn), nâng cao chất lượng y tế tuyến dưới để hạn chế tình trạng chuyển tuyến trên; - Nâng cao trình độ chuyên môn cho tuyến cơ sở bằng cách đa dạng hóa các loại hình đào tạo: ngắn hạn, dài hạn, đào tạo tại chỗ,... đặc biệt tập trung đối với một số chuyên khoa: Nội tiết, YHCT, sản, nhi, cấp cứu, - Tăng cường củng cố hệ thống khám chữa bệnh, kiện toàn các Bệnh viện đa khoa huyện, thành, thị; - Tiếp tục nâng cấp trang thiết bị y tế cho các bệnh viện tuyến huyện bằng nhiều nguồn: ngân sách nhà nước, xã hội hóa, viện trợ...; - Khuyến khích đầu tư xây dựng bệnh viện tư nhân ở các vùng, miền chưa có; - Đẩy nhanh tiến độ xây dựng BVĐK tỉnh, BVĐK khu vực, nâng cấp các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh, huyện; - Có kế hoạch tăng giường bệnh hàng năm cho các cơ sở y tế Nội dung 11: Tình trạng hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái như thuốc chữa bệnh, vật tư nông nghiệp, giống cây trồng... vẫn trôi nổi trên thị trường không được quản lý chặt chẽ; Công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm: UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Y tế xây dựng kế hoạch triển khai, thành lập các đoàn thanh kiểm tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm; Công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đã được các cấp, các ngành từ tỉnh đến phường xã quan tâm; Công tác truyền thông được đẩy mạnh, hàng năm có phát động tháng hành động vì chất lượng vệ sinh ATTP; Các mặt hàng thực phẩm nhập ngoại đã giảm hẳn so với năm trước; Nhận thức của người kinh doanh và người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm được nâng lên rõ rệt. UBND tỉnh đã có QĐ thành lập Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại: Sự phối hợp liên ngành chưa nhịp nhàng, chặt chẽ; Công tác truyền thông về kiến thức và các văn bản quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được thường xuyên, mới tập trung vào những tháng cao điểm; Chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong việc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (Nghị định 45/2005/NĐ-CP) áp dụng đồng đều cho tất cả các cơ sở nên quá nhẹ đối với cơ sở sản xuất lớn, và khó áp dụng được với những cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ; Việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao còn chậm, đặc biệt là tuyến xã, phường; Nhận thức của người kinh doanh và người tiêu dùng còn hạn chế, đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu và vùng xa dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm còn nhiều vấn đề phức tạp; Việc thành lập và ổn định tổ chức đi vào hoạt động của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm còn chậm. UBND tỉnh giao Sở Y tế có kế hoạch, biện pháp để khẩn trương khắc phục các hạn chế tồn tại nói trên trong thời gian tới. Công tác kiểm tra giống cây trồng: Trong năm 2009 đã tiến hành 3 đợt kiểm tra về giống cây trồng, ở 20 huyện, thành, thị, với tổng số trên 45 đơn vị sản xuất, kinh doanh và đã phát hiện các sai phạm sau: Vụ Xuân 2009: Chi nhánh Công ty CP giống cây trồng trung ương miền Trung có một số lô giống lúa lai Khải phong số 1 có tỷ lệ nảy mầm thấp; Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với UBND các huyện yêu cầu Chi nhánh không thu tiền giống của dân với những lô giống bị hỏng, đồng thời phải cung ứng giống cho dân sản xuất kịp thời vụ; Sở Nông nghiệp và PTNT và các địa phương đã chỉ đạo nông dân bổ sung giống để gieo lại đảm bảo gieo cấy đủ diện tích theo kế hoạch đề ra. Kết quả vụ Xuân 2009 là một vụ được mùa khá toàn diện. Vụ Hè thu - Mùa 2009: Tổng Công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An có lô giống Q.ưu 6 có tỷ lệ nảy mầm thấp, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành lập biên bản và yêu cầu Tổng Công ty thu hồi lượng giống dân chưa ngâm ủ (16.507kg) và không thu tiền đối với lượng giống mà dân đã ngâm ủ có tỷ lệ nảy mầm thấp; đồng thời cung ứng bổ sung giống để dân sản xuất kịp thời vụ. Vụ Hè thu, mùa 2009 không có tình trạng mất mùa do giống gây ra. Vụ Đông 2009: Không phát hiện thấy sai phạm, không có hiện tượng dân phản ánh mất mùa do giống gây ra. Công tác thanh, kiểm tra thuốc bảo vệ thực vật: Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã duy trì tốt hoạt động thanh, kiểm tra và đã xử lý kịp thời các vị phạm và đã ngăn chặn được tình trạng cung ứng thuốc BVTV kém chất lượng. Kết quả cụ thể như sau: - Thanh tra các quy định về quản lý thuốc BVTV: 22 đợt, có 61 đại lý vị phạm/162 đại lý được kiểm tra; xử phạt: 17.350.000 đồng. - Thanh tra các quy định về kiểm dịch thực vật: 02 cơ sở vi phạm/40 cơ sở được kiểm tra; xử phạt 500.000 đồng; phạt cảnh cáo 1 cơ sở; - Thanh tra về Điều lệ BVTV: 257 hộ nông dân vi phạm/315 hộ nông dân được kiểm tra. Các hình thức vi phạm như sử dụng không đúng quy trình kỹ thuật: không đảm bảo thời gian cách ly: sử dụng thuốc ngoài danh mục. Đã tiến hành phạt cảnh cáo, nhắc nhở các hộ vị phạm; - Tiêu hủy các loại thuốc BVTV không đảm bảo yêu cầu: 4.500 kg Công tác quản lý chất lượng phân bón: Đã tổ chức 02 đợt kiểm tra định kỳ. Có 02 ki ốt vi phạm/130 ki ốt kiểm tra; 16 đơn vị vi phạm/29 đơn vị kiểm tra; 29 mẫu vi phạm chất lượng/105 mẫu kiểm tra. Xử phạt 29.000.000 đ; Cảnh cáo 01 đơn vị; khiển trách 06 đơn vị và nhắc nhở 01 đơn vị. Công tác kiểm tra chất lượng giống vật nuôi: Đã thành lập Đoàn kiểm tra điều kiện sản xuất kinh doanh và chất lượng giống vật nuôi trên địa bàn tỉnh năm 2009. Kết quả cho thấy chỉ có 11/20 huyện, thành, thị có cán bộ chăn nuôi thú y. Công tác kiểm tra tình hình sản xuất và chất lượng thức ăn chăn nuôi: Đã tổ chức kiểm tra định kỳ hàng năm. Kết quả kiểm tra (đợt 1 ) có 02 mẫu thức ăn chăn nuôi vi phạm/39 mẫu được kiểm tra. Đơn vị có mẫu thức ăn chăn nuôi vi phạm là Nhà máy SXTA chăn nuôi Golden Star. Đã xử phạt 8.000.000 đồng và buộc Nhà máy phải thu hồi, tái chế số thức ăn chăn nuôi vi phạm. Nội dung 12: Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật còn nhiều hạn chế; một số đề án về tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân hiệu quả chưa cao. Hiện tại, Sở Tư pháp đang tham mưu triển khai thực hiện 4 đề án tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), bao gồm 2 đề án trong chương trình PBGDPL của Chính phủ và 2 đề án của tỉnh. Nhìn chung đã đạt được một số kết quả nhất định: ý thức pháp luật của người dân đã dần được nâng cao; người dân biết sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hạn chế tối đa tình trạng vi phạm pháp luật... Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại hạn chế: - Nội dung, hình thức tuyên truyền chưa phong phú (hình thức chủ yếu là tổ chức hội nghị tập huấn và mua sách trang bị cho các Tủ sách pháp luật) chưa phù hợp với đặc thù của từng vùng miền và các nhóm đối tượng. - Việc sử dụng kinh phí một số huyện chưa thực hiện đúng Hướng dẫn liên ngành của Sở Tư pháp và Sở Tài chính; chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng. Nguyên nhân: - Cấp ủy chính quyền một số địa phương còn xem công tác PBGDPL là công việc của ngành tư pháp nên thiếu sự chỉ đạo và đầu tư thỏa đáng. - Một số Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL cấp huyện và Ban phối hợp công tác PBGDPL cấp xã hoạt động còn mang tính hình thức. - Cơ quan Thường trực ở địa phương (phòng Tư pháp) chưa bám sát nội dung văn bản hướng dẫn, lực lượng cán bộ còn mỏng, hoạt động mang tính kiêm nhiệm; nghiệp vụ cán bộ tư pháp xã ở một số nơi còn yếu; kinh phí thực hiện các đề án không tách riêng mà được phân chung vào ngân sách cấp huyện, một số phòng Tư pháp không tham mưu hoặc chậm tham mưu việc phân nguồn để thực hiện. - Chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hòa giải viên chưa cao, kỹ năng tuyên truyền còn hạn chế. - Địa bàn miền núi rộng, điều kiện phương tiện, cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu. Biện pháp trong thời gian tới: - Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, của cả hệ thống chính trị trong việc tổ chức thực hiện công tác PBGDPL. - Đa dạng hóa và lựa chọn các hình thức PBGDPL phù hợp với từng địa bàn, đối tượng, trong đó tập trung vào một số hình thức như: tuyên truyền miệng; trợ giúp pháp lý lưu động; nâng cao hiệu quả công tác hòa giải và khai thác Tủ sách pháp luật; tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng và mạng lưới truyền thanh cơ sở; sinh hoạt câu lạc bộ... - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh. - Đảm bảo và sử dụng kinh phí có hiệu quả nhằm thực hiện các đề án sát thực tế, đúng quy định của Trung ương và hướng dẫn của tỉnh. Nội dung 13: Tình trạng xâm canh vẫn xảy ra ở một số nơi làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị của địa phương như điểm xâm canh giữa bản Pả Khốm xã Tri Lễ xâm canh vào đất bản Thằm Thẩm, bản Xói Voi xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương. Việc xâm canh của một số người Mông bản Pả Khốm, xã Tri Lễ, huyện Quế Phong tại bản Thằm Thẳm, bản Xói Voi, xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương đã có từ lâu. Nguyên nhân, do tập quán du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số và do địa giới hành chính giữa 2 xã chưa rõ ràng. Để giải quyết ngày 19/1/1995 UBND tỉnh có Quyết định 166/QĐ-UB phân chia ranh giới giữa 2 xã và hoàn chỉnh hồ sơ đưa vào sử dụng theo Chỉ thị 364/CT, nhưng chính quyền địa phương chưa làm rõ ranh giới thực địa nên nhân dân bản Pả Khốm, xã Tri Lễ tiếp tục xâm canh. UBND 2 huyện đã phối hợp giải quyết nhiều lần nhưng chưa dứt điểm. Ngày 16/4/2000, Ban Chỉ đạo giải quyết tranh chấp đất đai, địa giới hành chính tỉnh đã phối hợp với Sở Địa Chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường), Ban Tổ chức chính quyền tỉnh (nay là Sở Nội vụ), cùng UBND 2 huyện: Tương Dương và Quế Phong, UBND 2 xã: Tri Lễ và Nhôn Mai kiểm tra, khảo sát và thống nhất phân định ranh giới trên thực địa, cắm thêm 2 mốc phụ tại đoạn địa giới thường xẩy ra tranh chấp, bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý. Từ đó ranh giới hành chính giữa 2 xã, được làm rõ và ổn định. Đến năm 2006, tình trạng xâm canh trái phép lại xẩy ra, UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND 2 huyện phối hợp Đồn Biên phòng 523, 519 cùng 2 xã Tri Lễ và Nhôn Mai giải quyết. Theo cam kết của các hộ, chậm nhất ngày 31/12/2006 phải rút về xã Tri Lễ sản xuất nhưng đến nay việc xâm canh vẫn chưa chấm dứt. Qua kiểm tra và báo của UBND xã Nhôn Mai, hiện nay có 11 hộ ở bản Pả Khốm xã Tri Lễ, huyện Quế Phong sang xâm canh trái phép khoảng 12 ha trên đất rừng phòng hộ Huồi Xứa, thuộc bản Thằm Thẳm và 4 hộ tại bản Xói Voi xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương. Hiện tại, UBND tỉnh đã giao UBND 02 huyện: Tương Dương, Quế Phong chỉ đạo 2 xã Nhôn Mai và Tri Lễ tuyên truyền giải thích vận động bà con người Mông chấm dứt việc xâm canh, tự nguyện rút về địa bàn xã Tri Lễ sản xuất theo quy định của Nhà nước. Nội dung 14: Việc hướng dẫn cho công dân ở một số quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND tỉnh chưa rõ ràng, công dân không chấp nhận. Cụ thể như trong quyết định của UBND tỉnh hướng dẫn cho công dân được quyền khởi kiện ra Tòa án nhưng khi công dân khởi kiện ra Tòa án lại được Tòa án trả lời là không thuộc thẩm quyền, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Thực tế hiện nay khi không đồng ý với quyết định giải quyết quyết khiếu nại lần 2, công dân khởi kiện ra Tòa án lại được trả lời là "không thuộc thẩm quyền" làm ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Nguyên nhân của những vấn đề này là do các mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành, cụ thể: - Theo quy định tại Điều 46, Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung năm 2005) là: Trong thời gian 30 - 45 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, nếu không đồng ý thì người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, bao gồm cả quyết định hành chính, hành vi hành chính nói chung (kể cả các quyết định trong lĩnh vực đất đai). - Tuy nhiên, tại Điều 138 của Luật Đất đai quy định: Chỉ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND tỉnh, công dân mới có quyền khởi kiện ra Tòa án, còn nếu Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 thì đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, tức không có quyền khởi kiện ra tòa án. - Mặt khác, theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2006) thì quy định trong lĩnh vực đất đai: Tòa án chỉ thụ lý đối với loại vụ việc đã có Quyết định giải quyết khiếu nại lần 1, còn quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 không thuộc thẩm. Như vậy, giữa Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và Luật Đất đai có sự mâu thuẫn về thủ tục, quyền khởi kiện tiếp theo của công dân khi đã được cơ quan hành chính giải quyết nhưng chưa đồng ý. Với trách nhiệm của mình trong công tác giải quyết KNTC, UBND tỉnh tuân thủ quy định của Luật KNTC để hướng dẫn cho công dân sau khi được giải quyết khiếu nại lần 2 mà vẫn không đồng ý có quyền khởi kiện ra Tòa án là tuân thủ đúng nguyên tắc áp dụng pháp luật cụ thể: Về mặt giá trị pháp lý Luật KNTC có giá trị cao hơn Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; về mặt thời gian, Luật KNTC ra đời sau Luật Đất đai. Mặt khác, Luật KNTC là Luật gốc, quy định trình tự, thủ tục giải quyết KNTC, vì vậy trong quá trình giải quyết cần tuân thủ nghiêm túc./. BBT » Sao cho nghị quyết đi vào cuộc sống(16/09/2010) » Quyết định 1358/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11 tháng 2 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.(17/08/2010) » Nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống(13/08/2010) » Đoàn ĐBQH Nghệ An khảo sát về thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, chất lượng xây dựng các khu tái định cư, tiến độ di dân ra khỏi lòng hồ của dự án thủy điện Bản Vẽ(20/12/2009) » Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009(20/12/2009) » Đoàn ĐBQH Nghệ An tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 6 - Quốc hội khóa XII(17/12/2009) » Nghị quyết Số: 281/2009/NQ-HĐND ngày 23/07/2009 của HĐND tỉnh Nghệ An Về việc cho đại biểu HĐND thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND và thôi giữ chức Trưởng ban văn hóa và xã hội - HĐND tỉnh Nghệ An khóa XV- nhiệm kỳ 2004 - 2011(07/08/2009) » Nghị quyết Số: 280/2009/NQ-HĐND ngày 23/07/2009 của HĐND tỉnh Nghệ An Về việc cho đại biểu HĐND thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND và thôi giữ chức Chủ tịch HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2004 - 2011(07/08/2009) » Nghị quyết Số: 279/2009/NQ-HĐND ngày 23/07/2009 của HĐND tỉnh Nghệ An Về một số chính sách hỗ trợ thị xã Thái Hòa(07/08/2009) » Nghị quyết Số: 278/2009/NQ-HĐND ngày 23/07/2009 của HĐND tỉnh Nghệ An Về một số cơ chế, chính sách đặc thù trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội đối với thành phố Vinh - đô thị loại I trực thuộc tỉnh(07/08/2009)