In bài viết

Khảo sát địa hình: Làm rõ quy định về mật độ và lưới khống chế đo vẽ

(Chinhphu.vn) - Trong quá trình thực hiện công tác thiết kế, lập và trình duyệt phương án kỹ thuật-dự toán cũng như nghiệm thu các dự án khảo sát địa hình thực tế, ông Minh Phương nhận thấy một số bất cập liên quan đến việc áp dụng các quy định tại Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT.

06/11/2026 09:03

Bất cập về việc thiếu chỉ tiêu định lượng đối với lưới khống chế đo vẽ (cấp 1 và cấp 2)

Khoản 7 Điều 7 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT quy định cụ thể mật độ tối thiểu đối với lưới trắc địa quốc gia và lưới khống chế cơ sở (vùng đô thị là 4 điểm/1 km2, vùng chưa xây dựng là 1 điểm/1 km2).

Tuy nhiên, đối với Lưới khống chế đo vẽ (cấp 1 và cấp 2), Thông tư chỉ nêu nguyên tắc định tính tại khoản 1 Điều 25: "Lưới đo vẽ cấp 2 là cấp lưới khống chế cuối cùng được phép phát triển nếu mật độ điểm khống chế thuộc lưới cấp cao hơn chưa đủ để đo vẽ hết khu đo", hoàn toàn không ban hành bảng biểu hay công thức định lượng mật độ tối đa/tối thiểu cho cấp lưới này.

Do thiếu chỉ số định lượng pháp lý làm thước đo, khi trình duyệt phương án kỹ thuật, các chủ đầu tư, đơn vị thẩm tra và các cơ quan thanh tra/kiểm toán sau này thường có những cách hiểu rất khác nhau. Nhiều nơi áp đặt một cách máy móc mật độ của lưới khống chế cơ sở (4 điểm/1 km2) cho cả lưới đo vẽ cấp 1 và cấp 2, gây ách tắc rất lớn cho công tác phê duyệt dự án và quyết toán khối lượng của cá nhân ông Phương cũng như các đơn vị liên quan.

Bất cập trong việc áp dụng mật độ diện tích (1 điểm/1 km2) đối với công trình dạng tuyến

Tiêu chuẩn tính mật độ điểm khống chế rải đều trên mỗi km2 chỉ phù hợp với các dự án đo vẽ dạng diện tích tập trung (dạng vùng). Công trình dạng tuyến (đường giao thông, hành lang đường điện, kênh mương...) có đặc thù chiều dài chạy dọc rất lớn nhưng bề rộng giải tỏa khảo sát hành lang cực kỳ hẹp.

Ví dụ, một tuyến đường giao thông hoặc hành lang đường điện có chiều dài 20 km, bề rộng khảo sát hành lang là 50 m. Diện tích ranh giới khu đo thực tế của tuyến chỉ đạt: 20 km * 0,05 km = 1 km2.

Nếu áp dụng máy móc quy định tại điểm b khoản 7 Điều 7 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT (đối với khu vực nông thôn, chưa xây dựng là 1 điểm/1 km2), thì toàn bộ tuyến đường dài 20 km này chỉ được phép thiết kế chôn một điểm khống chế.

Việc chỉ có một mốc khống chế trên suốt 20 km tuyến chạy dài là hoàn toàn bất khả thi về mặt kỹ thuật, không thể thực hiện đo đạc thực địa và không có cơ sở thông hướng ngắm để vận hành máy móc.

Tuy nhiên, nếu thiết kế tăng số lượng mốc lên để bảo đảm kỹ thuật đo vẽ ngoài thực địa thì khi quyết toán, các cơ quan thẩm định, kiểm toán lại dựa vào diện tích ranh giới dự án (1 km2) để cắt giảm khối lượng, xuất toán kinh phí đo đạc của ông Phương.

Sự không đồng bộ giữa quy trình công nghệ GNSS và yêu cầu chôn mốc theo cặp thông hướng

Khoản 2 Điều 29 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT cho phép sử dụng công nghệ GNSS đa trạm gốc (CORS) để đo vẽ chi tiết trực tiếp địa hình. Máy thu vệ tinh chỉ cần bầu trời thông thoáng để đạt lời giải FIXED, hoạt động độc lập và không cần thông hướng mặt đất với nhau.

Tuy nhiên, khoản 6 Điều 28 vẫn yêu cầu các điểm lưới đo vẽ cấp 2 phải được thiết kế và đo theo từng cặp thông hướng.

Yêu cầu thông hướng thực chất chỉ phục vụ cho việc định hướng của máy toàn đạc điện tử đo chi tiết sau này tại các vùng khuất sóng vệ tinh. Đối với các khu vực hoàn toàn thông thoáng (đồng ruộng, bãi cát), việc bắt buộc phải thiết kế chôn mốc vật lý theo cặp thông hướng để đo bằng RTK/CORS gây phát sinh lãng phí lớn về chi phí chôn mốc, nhân công ngoại nghiệp của dự án mà không mang lại giá trị sử dụng thực tế.

Để tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho cá nhân ông Phương cũng như các đơn vị khảo sát và chủ đầu tư thống nhất thực hiện, ông đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải đáp và hướng dẫn rõ các nội dung sau:

Về cơ sở xác định số lượng điểm lưới đo vẽ, trong trường hợp Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT không ban hành bảng quy định cụ thể về mật độ định lượng cố định (số điểm trên một đơn vị diện tích) đối với lưới đo vẽ cấp 1 và cấp 2, chủ đầu tư và đơn vị khảo sát phải căn cứ vào tiêu chí, quy chuẩn hoặc công thức định lượng cụ thể nào để tính toán và phê duyệt số lượng điểm lưới đo vẽ cấp 1, cấp 2 trong phương án kỹ thuật - dự toán?

Khi tiến hành nghiệm thu, quyết toán và phục vụ công tác thanh tra, kiểm toán sau này, các bên phải dựa vào căn cứ pháp lý nào để chứng minh tính hợp lý của số lượng mốc đã thực hiện?

Về công trình dạng tuyến, đối với các dự án khảo sát công trình dạng tuyến chạy dài có chiều rộng hẹp (như ví dụ tuyến 20 km nêu trên), phương pháp, chỉ tiêu kỹ thuật hoặc quy định cụ thể nào được áp dụng để xác định số lượng điểm lưới khống chế đo vẽ cấp 1 và cấp 2 hợp pháp, đúng quy định?

Về yêu cầu thành lập lưới cấp 2 khi đo bằng CORS, khi ứng dụng công nghệ đo GNSS mạng lưới trạm định vị vệ tinh quốc gia (CORS) để đo vẽ chi tiết trực tiếp địa hình theo khoản 2 Điều 29 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT, quy định hướng dẫn cụ thể như thế nào đối với việc thành lập lưới khống chế đo vẽ cấp 2? Có bắt buộc phải xây dựng lưới đo vẽ cấp 2 vật lý trên thực địa đối với các khu vực hoàn toàn thông thoáng hay không?

Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định của Luật Đo đạc và bản đồ (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Thanh tra và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường), trách nhiệm xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về đo đạc và bản đồ được quy định cụ thể như sau:

Tại điểm b khoản 2 Điều 57 quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm "Xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về đo đạc và bản đồ cơ bản, đo đạc và bản đồ chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố";

Tại điểm a khoản 4 Điều 57 quy định Bộ, cơ quan ngang Bộ khác có trách nhiệm "Xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về đo đạc và bản đồ chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, công bố và tổ chức hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện";

Tại điểm a khoản 1 Điều 58 quy định UBND cấp tỉnh có trách nhiệm "Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý; ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ; chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ về đo đạc và bản đồ theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi tình hình thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ trên địa bàn".

Ngày 22/12/2015, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT quy định kỹ thuật đo đạc trực tiếp địa hình phục vụ thành lập bản đồ địa hình và cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000.

Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghệ (như công nghệ GNSS) trong triển khai hoạt động đo đạc trực tiếp địa hình phục vụ thành lập bản đồ địa hình và cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000.

Căn cứ xác định mật độ lưới khống chế đo vẽ

(1) Việc xác định mật độ điểm khi lập lưới khống chế đo vẽ cấp 1, cấp 2 được thực hiện theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 7 và khoản 1 Điều 25 của Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT.

Theo đó, căn cứ vào tỷ lệ đo vẽ, khoảng cao đều cơ bản, phương pháp thành lập và các yêu cầu khác để nghiên cứu, xác định mật độ điểm cho phù hợp và phải được nêu rõ trong thiết kế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đặc thù khảo sát công trình dạng tuyến

(2) Khoản 7 Điều 7 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT quy định:

"Mật độ trung bình điểm trắc địa quốc gia phải đảm bảo ít nhất: trên diện tích từ 20 đến 30 km2 có một điểm tọa độ và từ 10 đến 20 km2 có một điểm độ cao để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:5000. Để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:2000, 1:1000 và 1:500 trên diện tích từ 5 đến 15 km2 có 1 điểm tọa độ, từ 5 đến 10 km2 có 1 điểm độ cao. Trường hợp tính cả các điểm của lưới khống chế cơ sở thì mật độ điểm phải bảo đảm ít nhất:

a) Vùng thành phố và khu công nghiệp: 4 điểm trên 1 km2;

b) Khu vực chưa xây dựng: 1 điểm trên 1 km2".

Theo đó, chỉ quy định mật độ điểm tối thiểu phải bảo đảm đối với điểm đo đạc quốc gia và điểm của lưới khống chế cơ sở.

Trường hợp thực hiện đo vẽ công trình dạng tuyến (đường giao thông, kênh mương…) ngoài thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 7 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT để xác định mật độ điểm thì còn thực hiện theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 7 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT và phải được nêu rõ trong thiết kế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bổ sung điểm khống chế tại vùng khuất tín hiệu

(3) Khoản 2 Điều 29 áp dụng trong điều kiện thực tế có thể đo chi tiết toàn bộ khu đo bằng công nghệ GNSS động thời gian thực hoặc công nghệ đo động sử dụng lưới trạm CORS mà không cần lập lưới khống chế đo vẽ cấp 2 cũng như các cấp khác cho khu đo.

Đối với khu đo có các vùng khuất tín hiệu vệ tinh, không thể áp dụng công nghệ lưới trạm CORS để đo chi tiết toàn bộ khu đo thì có thể lập lưới khống chế đo vẽ cấp 2 dạng các cặp điểm thông hướng phục vụ cho đo chi tiết bổ sung vùng khuất tín hiệu vệ tinh bằng máy toàn đạc, sử dụng công nghệ đo động lưới trạm CORS theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT và theo quy định tại Thông tư số 03/2020/TT-BTNMT ngày 29/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định kỹ thuật về mạng lưới trạm định vị vệ tinh quốc gia.

Trường hợp không áp dụng công nghệ đo động lưới trạm CORS mà lựa chọn giải pháp công nghệ đo GNSS động thời gian thực (Real-time Kinematic GNSS) thì việc đo lưới khống chế đo vẽ cấp 2 thực hiện theo quy định tại Điều 28 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT.

Theo đó, tại khu vực không thông thoáng bầu trời, khuất tín hiệu vệ tinh để đo chi tiết toàn bộ khu đo thì có thể lập lưới khống chế đo vẽ cấp 2 dạng các cặp điểm thông hướng phục vụ cho đo chi tiết bổ sung vùng khuất tín hiệu vệ tinh bằng máy toàn đạc theo quy định tại khoản 6 Điều 28 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT; còn tại khu vực thông thoáng bầu trời cho phép áp dụng cho đo chi tiết địa hình, địa vật, chuyển điểm thiết kế ra thực địa và luôn ở chế độ được phép đo (Fixed) theo quy định tại khoản 10 Điều 28 Thông tư số 68/2015/TT-BTNMT.

Trên cơ sở đó tùy vào từng điều kiện địa hình, địa vật khu vực đo vẽ mà ông Phương nghiên cứu, lựa chọn giải pháp kỹ thuật công nghệ phù hợp và nêu rõ trong thiết kế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở triển khai nhiệm vụ đo đạc trực tiếp địa hình phục vụ thành lập bản đồ địa hình và cơ sở dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 một cách hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí.

Chinhphu.vn