In bài viết

Khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí: Tạo cơ chế chia sẻ rủi ro để khơi dòng vốn thăm dò dầu khí

(Chinhphu.vn) - ĐBQH Bùi Thị Kim Tuyến cho rằng, nghiên cứu khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm, thăm dò dầu khí (Quỹ TKTD) có thể tạo cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, giúp Petrovietnam chủ động hơn trong đầu tư vào những khu vực tiềm năng nhưng có mức độ rủi ro cao.

13/08/2026 16:03
Khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí: Tạo cơ chế chia sẻ rủi ro để khơi dòng vốn thăm dò dầu khí- Ảnh 1.

ĐBQH Bùi Thị Kim Tuyến

Trao đổi với báo chí bên lề Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ) cho rằng, cùng với mở rộng phân cấp, phân quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Luật Dầu khí (sửa đổi) cần thiết kế cơ chế tài chính đủ linh hoạt để doanh nghiệp có thể chủ động thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò trong điều kiện rủi ro ngày càng lớn.

Theo đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến, việc mở rộng thẩm quyền cho Petrovietnam trong hoạt động dầu khí cho thấy sự thay đổi về tư duy quản lý, chuyển từ mô hình quản lý hành chính trực tiếp sang giao quyền nhiều hơn cho chủ thể có đủ năng lực chuyên môn và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh các dự án dầu khí mới có mức độ rủi ro cao hơn, quy mô đầu tư lớn hơn, đồng thời đòi hỏi quá trình ra quyết định nhanh và sát thực tiễn hơn.

Tuy nhiên, theo bà Tuyến, giao thêm quyền mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phải có cơ chế thực thi tương ứng, trong đó phân cấp, phân quyền phải thực chất, rõ quyền hạn và rõ trách nhiệm, tránh tình trạng Petrovietnam được giao quyền nhưng khi quyết định vẫn phải qua nhiều tầng nấc trình duyệt.

"Petrovietnam là đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động dầu khí, có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn, vì vậy cần được trao quyền chủ động quyết định đối với những vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn, kỹ thuật và triển khai hợp đồng", đại biểu nhấn mạnh.

Đặc biệt, khi Petrovietnam thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà, pháp luật cần xác định rõ đâu là thẩm quyền của Tập đoàn, đâu là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm để tránh tâm lý e ngại trách nhiệm, đồng thời tạo điều kiện cho Petrovietnam thực sự chủ động và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí: Tạo cơ chế chia sẻ rủi ro để khơi dòng vốn thăm dò dầu khí- Ảnh 2.

Hoạt động khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ

Luật hóa rõ vai trò đại diện nước chủ nhà

Một trong những vấn đề được đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến đặc biệt lưu ý là cần luật hóa rõ vai trò "đại diện nước chủ nhà" của Petrovietnam.

Theo bà, trên thực tế Petrovietnam đang thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hợp đồng dầu khí theo nhiệm vụ Nhà nước giao. Đây là vai trò đặc thù, không phải chức năng quản lý nhà nước cũng không đơn thuần là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, Luật Dầu khí sửa đổi cần xác định rõ tư cách, quyền hạn và trách nhiệm của chủ thể thực hiện vai trò này.

Việc luật hóa rõ vai trò đại diện nước chủ nhà càng có ý nghĩa trong trường hợp phát sinh tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp quốc tế. Khi chủ thể đại diện và phạm vi trách nhiệm được xác định rõ, Petrovietnam sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để tham gia xử lý, giải quyết tranh chấp với nhà đầu tư, qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro cho Nhà nước.

Cùng với đó, Luật cần có quy định chuyển tiếp đối với những nghĩa vụ Petrovietnam đã thực hiện với tư cách đại diện nước chủ nhà trong các hợp đồng trước đây. Việc này nhằm bảo đảm tính liên tục của hợp đồng, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý, đồng thời làm rõ cơ chế xử lý các khoản nghĩa vụ Petrovietnam đã thực hiện thay cho nước chủ nhà và nguồn thu từ phần dầu khí thuộc quyền lợi của nước chủ nhà để thực hiện các nghĩa vụ liên quan.

Đáng chú ý, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến đề xuất cách tiếp cận theo hướng không quy định cứng tên một doanh nghiệp mà sử dụng khái niệm chung "Cơ quan đại diện nước chủ nhà".

Theo bà, cách thiết kế này vừa tạo cơ sở pháp lý để Petrovietnam thực hiện nhiệm vụ hiện nay, vừa bảo đảm tính linh hoạt trong tương lai nếu Nhà nước có nhu cầu tổ chức hoặc điều chuyển chức năng này mà không nhất thiết phải sửa luật.

Chia sẻ rủi ro để khơi thông vốn cho tìm kiếm, thăm dò

Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến cho rằng đây là khâu có mức độ rủi ro cao nhất trong chuỗi hoạt động dầu khí. Doanh nghiệp phải bỏ ra nguồn vốn lớn cho khảo sát, khoan thăm dò, trong khi khả năng phát hiện trữ lượng và khai thác thương mại không chắc chắn.

Trong khi đó, các khu vực tiềm năng mới ngày càng phức tạp, chi phí đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Nếu toàn bộ rủi ro tiếp tục đặt lên vai doanh nghiệp, sẽ khó tạo động lực đầu tư vào những khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia.

Từ thực tế đó, bà Tuyến cho rằng cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong đó khôi phục Quỹ TKTD có thể là một công cụ phù hợp.

Mục tiêu của Quỹ, theo bà, không phải là bao cấp cho hoạt động đầu tư mà là tạo thêm nguồn lực để Petrovietnam tiếp tục đầu tư vào những khu vực khó, có tiềm năng nhưng mức độ rủi ro cao.

"Nếu toàn bộ rủi ro tiếp tục đặt lên vai doanh nghiệp, sẽ khó tạo động lực đầu tư vào những khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp", đại biểu nêu quan điểm.

Nếu được khôi phục, Quỹ TKTD cần đặt nguyên tắc bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước lên hàng đầu. Nguồn lực này phải được sử dụng để chia sẻ rủi ro trong những hoạt động mà doanh nghiệp khó có thể tự gánh chịu, thay vì trở thành nguồn bù đắp cho các dự án đầu tư kém hiệu quả.

Theo đó, nguồn lực của Quỹ nên ưu tiên cho các nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò có ý nghĩa chiến lược, có tiềm năng nhưng rủi ro cao. Việc sử dụng vốn cần dựa trên các tiêu chí, quy trình và trách nhiệm rõ ràng, đồng thời có cơ chế đánh giá, giám sát hiệu quả.

Một điểm quan trọng khác là phải tạo đủ quyền chủ động cho Petrovietnam trong quản lý và sử dụng Quỹ, nhất là đối với các quyết định chuyên môn, kỹ thuật và lựa chọn phương án đầu tư trong phạm vi được phê duyệt.

Theo đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến, Nhà nước nên kiểm soát ở cấp chiến lược thông qua mục tiêu, hạn mức, tiêu chí và cơ chế giám sát, thay vì can thiệp vào từng quyết định cụ thể.

"Nếu nguồn lực đã được bố trí nhưng việc sử dụng vẫn phải qua nhiều tầng nấc phê duyệt thì Quỹ sẽ khó phát huy hiệu quả. Quan trọng nhất là phải thiết kế cơ chế để người quyết định có thể hành động trong khuôn khổ pháp luật, đi cùng trách nhiệm rõ ràng và cơ chế kiểm soát phù hợp", bà Tuyến nói.

Mở không gian mới cho Petrovietnam với CCS

Bên cạnh tìm kiếm, thăm dò dầu khí, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến cho rằng Luật Dầu khí sửa đổi cũng cần tạo nền tảng pháp lý đủ rõ cho thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) - lĩnh vực mới nhưng có tiềm năng trở thành một hướng phát triển quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng.

Theo bà, CCS đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Vì vậy, nếu Luật chỉ dừng ở việc xác lập khung pháp lý mà chưa có cơ chế đầu tư và chia sẻ rủi ro phù hợp, các dự án sẽ khó đi vào triển khai thực tế.

Petrovietnam có lợi thế đáng kể để tham gia lĩnh vực này, từ kinh nghiệm dầu khí, hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực kỹ thuật đến khả năng tận dụng các mỏ dầu khí suy giảm để lưu trữ carbon. Do đó, theo đại biểu, cần có cơ chế pháp lý rõ ràng để Petrovietnam chủ động tham gia toàn bộ chuỗi hoạt động, từ khảo sát, thu giữ, vận chuyển đến lưu trữ carbon. Đồng thời, chính sách về đầu tư, giá dịch vụ và tín chỉ carbon cũng cần được thiết kế phù hợp để tạo nguồn thu, bảo đảm hiệu quả kinh tế cho dự án.

Đặc biệt, trách nhiệm dài hạn đối với lượng carbon sau khi được lưu trữ là vấn đề cần được quy định rõ. Luật cần xác định trách nhiệm của doanh nghiệp theo từng giai đoạn, tiêu chuẩn giám sát, phương án xử lý rủi ro và thời điểm chuyển giao trách nhiệm cho Nhà nước nếu có. Đây là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp có thể lượng hóa rủi ro và đưa ra quyết định đầu tư.

Từ góc độ này, bà Tuyến cho rằng Nhà nước nên tạo hành lang pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro trong giai đoạn đầu, trong khi Petrovietnam với những lợi thế sẵn có có thể đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt quá trình hình thành thị trường CCS tại Việt Nam. Nếu thiết kế được cơ chế minh bạch về quyền, trách nhiệm và hiệu quả kinh tế, CCS không chỉ là công cụ giảm phát thải mà còn có thể mở ra một hướng phát triển mới cho Petrovietnam trong quá trình chuyển dịch năng lượng.

AT