In bài viết

Không chỉ kết nối, '3 nhà' phải cùng giải bài toán công nghệ

(Chinhphu.vn) - Hiệu quả liên kết giữa "3 nhà": Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp không chỉ nằm ở các chương trình hợp tác, mà cần được thể hiện bằng những bài toán công nghệ được giải quyết, sản phẩm cụ thể được tạo ra và kết quả nghiên cứu được đưa vào thực tiễn.

23/10/2026 13:05
Không chỉ kết nối, '3 nhà' phải cùng giải bài toán công nghệ- Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân phát biểu tại phiên họp - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

Ngày 23/10, tại trụ sở Văn phòng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.

Hội nghị do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì; Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi, giải đáp.

Nhiều chính sách mạnh hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển công nghệ

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho biết, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) cùng Nghị định số 260/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 về quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao đã thiết lập nhiều chính sách mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược.

Theo đó, đối với nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng, doanh nghiệp có thể được hỗ trợ 100% kinh phí. Chính sách hỗ trợ lãi suất được quy định ở mức 70% theo hợp đồng; riêng đối với công nghệ chiến lược, mức hỗ trợ có thể lên tới 100%, theo các điều kiện quy định.

Đối với hoạt động thử nghiệm sản phẩm, chi phí cho lần thử nghiệm đầu tiên được hỗ trợ 100% đối với công nghệ chiến lược và 70% đối với công nghệ cao. Các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ cao, công nghệ chiến lược đáp ứng điều kiện công nhận của Bộ KH&CN được miễn tiền thuê đất.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp khởi nghiệp đáp ứng điều kiện thẩm định được miễn chi phí trong 3 năm khi sử dụng các cơ sở nghiên cứu, thử nghiệm do Nhà nước quản lý. Các chính sách hỗ trợ cũng bao gồm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực và sở hữu trí tuệ...

Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng hệ thống chính sách đã hình thành nhiều cơ chế hỗ trợ đáng kể. Tuy nhiên, việc truyền thông, phổ biến chính sách đôi khi chưa hiệu quả, khiến các quy định chưa đến được đầy đủ với những đối tượng thụ hưởng trực tiếp như doanh nghiệp, nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học.

Vì vậy, bên cạnh tiếp tục hoàn thiện thể chế, cần tăng cường hướng dẫn, phổ biến chính sách để các tổ chức, doanh nghiệp hiểu rõ điều kiện, quy trình và chủ động tiếp cận, tận dụng các cơ chế hỗ trợ.

Không chỉ kết nối, '3 nhà' phải cùng giải bài toán công nghệ- Ảnh 2.

Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

Chuyển từ đề xuất nghiên cứu sang đặt hàng công nghệ 

Đề cập đến mối liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng phương thức tổ chức nghiên cứu KH&CN có sự chuyển biến mạnh mẽ.

Trước đây, nhiều nhiệm vụ nghiên cứu bắt đầu từ ý tưởng của các nhà khoa học tại viện nghiên cứu, trường đại học. Nhà khoa học đề xuất hướng nghiên cứu, xây dựng đề án, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và được cấp kinh phí thực hiện.

Hiện nay, cách tiếp cận chuyển sang nghiên cứu xuất phát từ đơn đặt hàng của Nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời phải xác định rõ sản phẩm đầu ra.

Theo Bộ trưởng, kết quả nghiên cứu cuối cùng cần được đo đếm bằng sản phẩm cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở số lượng nhiệm vụ hay kết quả nghiên cứu.

Để thực hiện chuyển đổi này, vai trò chủ động của Bộ KH&CN và các bộ, ngành có ý nghĩa quan trọng. Không thể chỉ đặt vấn đề doanh nghiệp có nhu cầu nhưng trường đại học không đáp ứng được, hoặc các bên chưa tìm được tiếng nói chung. Cơ quan quản lý cần tham gia kết nối, xây dựng chính sách và hình thành những bài toán công nghệ cụ thể để doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng tham gia giải quyết.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng lưu ý việc thúc đẩy liên kết giữa ba nhà cần gắn với những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cụ thể, không chỉ tập trung vào các công nghệ đang thu hút nhiều sự quan tâm như trí tuệ nhân tạo (AI) hay chip bán dẫn.

Bộ trưởng nêu ví dụ về lĩnh vực thủy sản. Đây là ngành xuất khẩu có giá trị lớn của Việt Nam, nhưng cần nhìn nhận cụ thể mức độ làm chủ công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, vaccine phòng bệnh đến chế biến và xử lý, khai thác phụ phẩm thủy sản.

Những vấn đề này cần được xác định thành các bài toán công nghệ để tổ chức nghiên cứu, phát triển và ứng dụng, thay vì chỉ dừng ở định hướng chung về thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Theo Bộ trưởng, Bộ KH&CN cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành liên quan xác định nhu cầu thực tiễn, tập hợp doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học tham gia giải quyết. Trên cơ sở đó, tổ chức cạnh tranh công bằng để lựa chọn những đơn vị có năng lực phù hợp với từng bài toán công nghệ.

Cách tiếp cận này giúp hoạt động nghiên cứu xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của ngành, lĩnh vực; đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp tham gia đầu tư, đặt hàng và tiếp nhận kết quả nghiên cứu, còn các nhà khoa học có điều kiện phát huy năng lực chuyên môn để giải quyết những vấn đề thực tiễn. 

Quá trình này cần được triển khai từng bước, bắt đầu từ những bài toán cụ thể, lựa chọn mô hình phù hợp, đánh giá hiệu quả rồi mở rộng quy mô và phạm vi hợp tác.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết thời gian qua, Bộ KH&CN đã dành nhiều nguồn lực và thời gian cho công tác xây dựng thể chế, trong đó có việc xây dựng nhiều luật. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải thúc đẩy mạnh hơn việc triển khai chính sách và các mô hình liên kết, qua đó chuyển hóa nguồn lực nghiên cứu thành kết quả ứng dụng.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân khẳng định Bộ KH&CN sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành thúc đẩy những mô hình liên kết cụ thể, trong đó xác định rõ bài toán cần giải quyết, trách nhiệm của từng bên và sản phẩm cần đạt được.

Không chỉ kết nối, '3 nhà' phải cùng giải bài toán công nghệ- Ảnh 3.

Thứ trưởng Lê Xuân Định báo cáo tại Hội nghị - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

Những điểm nghẽn khiến nghiên cứu khó đi vào thị trường

Trước đó, báo cáo do Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định trình bày cho thấy, liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn còn khoảng cách đáng kể, từ đầu tư nghiên cứu, nhân lực đến thương mại hóa kết quả.

Theo số liệu Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026, chi nghiên cứu và phát triển (R&D) do doanh nghiệp thực hiện của Việt Nam chỉ tương đương 0,3% GDP, trong khi tỉ lệ này ở Singapore là 1,3%, Trung Quốc 2,1% và Hàn Quốc 4,2%, cao gấp khoảng 14 lần Việt Nam.

Nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp chiếm 27,5% tổng số nhà nghiên cứu, thấp hơn nhiều so với mức 81,9% của Hàn Quốc. Tỉ lệ công bố khoa học có hợp tác giữa khu vực nghiên cứu công và doanh nghiệp của Việt Nam cũng chỉ đạt 1,8%, so với 8,2% của Trung Quốc.

Năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo là 34,6%; chỉ 6,7% doanh nghiệp nhỏ có bộ phận nghiên cứu và phát triển. Trong số 991 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, có 27 doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, chiếm khoảng 2,7%.

Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu. Từ tháng 01 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. 

Bộ KH&CN xác định 7 điểm nghẽn. Một, nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu ứng dụng. Hai, vốn đối ứng của doanh nghiệp chủ yếu được theo dõi theo mức cam kết, chưa theo mức thực góp. Ba, một số viện, trường lo ngại quyết định khai thác, định giá, góp vốn bị xem xét lại khi thanh tra, kiểm toán. Bốn, thiếu đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp; một số phòng thí nghiệm thiếu quy chế chia sẻ, dùng chung. Năm, động lực chuyển giao và năng lực tiếp nhận chưa đáp ứng yêu cầu. Sáu, yêu cầu về hợp đồng tương tự trong mua sắm công có thể gây khó khăn cho sản phẩm chế tạo lần đầu. Bảy, ngân sách chưa gắn với điều kiện và kết quả hợp tác; kết quả liên kết chủ yếu được đánh giá bằng số nhiệm vụ, số biên bản ghi nhớ. 

Thu Giang