In bài viết

Kinh tế biển: Làm sao để phát triển hiệu quả ?

Với hơn 3260 km bờ biển; 114 cửa sông, lạch; khoảng 4.000 đảo lớn, nhỏ và hơn 1 triệu cây số vuông vùng biển; đồng thời là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển của thế giới- biển Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển. Trong các văn kiện của ĐH Đảng lần thứ XI, Đảng ta cũng đã nói đến một chiến lược cho phát triển kinh tế biển.

21/01/2011 14:25

Biển và kinh tế biển

Vùng biển Việt Nam rộng trên 1 triệu km2, lớn gấp 3 lần diện tích đất liền; nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển. Chúng ta tiếp giáp với biển trên cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam. Trung bình cứ khoảng 100 km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần của thế giới); với trên 30 cảng biển, 114 cửa sông, 47 vũng, vịnh và khoảng 4000 hòn đảo lớn, nhỏ. Đặc biệt, ta còn có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có khoảng 20 kiểu loại hệ sinh thái điển hình và trên 100 điểm khoáng sản đã được phát hiện... Điều này đã tạo nên nét đặc trưng về cảnh quan thiên nhiên và nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng với trữ lượng và quy mô thuộc loại khá lớn, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như: cảng biển, thủy sản, dầu khí, khai khoáng, du lịch và nhiều lĩnh vực dịch vụ đi kèm.

Không chỉ có bờ biển dài và đẹp mà biển Việt Nam còn có khả năng mang lại những nguồn lợi lớn cho kinh tế đất nước. Kinh tế biển có thể gắn với phát triển lĩnh vực dầu khí- điện lực; lại có thể gắn với khai thác các sa khoáng. Từ thực tế biển đảo Việt Nam, các chuyên gia đều nhận định: nếu có chiến lược tiếp thị đúng đắn, tài nguyên biển Việt Nam sẽ tạo ra một nguồn lực kinh tế vô cùng to lớn, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước. Thậm chí, ông Nguyễn Văn Cư – Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam còn nhận định: Chỉ khi nào ta nâng cao được giá trị các thương hiệu cho sản phẩm dịch vụ từ biển thì mới có thể hạch toán được toàn diện giá trị tài nguyên biển, góp phần vào sự phát triển bền vững. Trên thực tế, chúng ta hiện có khoảng 15 khu kinh tế biển và ven biển. Một số khu kinh tế đang phát huy được tiềm năng của mình như Khu Kinh tế Dung Quất. Hệ thống cảng biển gồm hơn 80 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. Khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam mặc dù có tốc độ tăng trưởng bình quân là 17%/năm nhưng vẫn bị xem là kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi quy mô nhỏ, thiết bị bốc dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container. Những cảng tổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30 km), Sài Gòn (90km), luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn ra vào cảng... Đánh bắt, khai thác thủy sản đã và đang chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta và là một trong những mũi nhọn kinh tế đem lại tỉ trọng xuất khẩu cao. Cũng như vậy, trữ lượng dầu khí của chúng ta cũng khá dồi dào... rồi các mỏ quặng ở thềm lục địa nước ta còn khá lớn. Tất cả đặt ra cho chúng ta bài toán về quá trình khai thác và phát triển bền vững kinh tế biển.

Giải pháp cho sự phát triển bền vững kinh tế biển

Nhận thức rõ vị trí chiến lược của biển, hải đảo đối với kinh tế và an ninh - quốc phòng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương nhất quán về vấn đề này. Ngày 6 tháng 5 năm 1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 03-NQ/TW về đẩy mạnh phát triền kinh tế biển. Nghị quyết chỉ rõ: “Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển. Phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển”. Ban Chấp hành Trung ương có Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22-9-1997 về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ý chí chính trị đó tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết của các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và X.

Đặc biệt, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 4 (khóa X) năm 2007 đã thông qua Nghị quyết 09/2007/NQ-TW về ban hành Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 trong đó, xác định một trong những mục tiêu quan trọng là đến năm 2020 “phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”. Tuy nhiên, trong Báo cáo kiểm điểm của BCH TƯ khóa X cũng đã chỉ rõ một hạn chế là việc Chiến lược biển Việt Nam chậm được triển khai. Hiến kế cho sự phát triển Chiến lược biển, để nó không phải là một hiệu quả kinh tế có tính chất “nhặt nhạnh”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi đã nêu ý kiến: Chúng ta không thể tiến ra biển theo lối tư duy của lối làm ăn nhỏ lẻ, với một hạm đội “thuyền thúng”; trái lại phải đầu tư lớn và đưa khai thác thành một ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Bên cạnh việc có phương án quản lý biển theo lối bền vững, chú ý đến môi sinh- môi trường, rất cần một quy hoạch phát triển kinh tế biển tổng thể.

Mới đây, tại ĐH Đảng lần thứ XI, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành, từ thực tế của thành phố Cảng đã đưa ra một số giải pháp với mong muốn đóng góp cho sự phát triển của Chiến lược biển Việt Nam nói chung và sự phát triển kinh tế biển của Hải Phòng nói riêng. Trong đó, ông Thành đề xuất cần xác định vị trí pháp lý của Quy hoạch sử dụng biển đảo trong hệ thống quy hoạch chung của quốc gia, tương tự như “Quy hoạch sử dụng đất” trên đất liền theo hướng dài lâu (đến năm 2020 có định hướng đến năm 2030). Quy hoạch phải đi trước một bước và cần tính toán kỹ sao cho không nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích trong phát triển. Điều này có thể hiểu là cùng với đó nên xây dựng một chiến lược toàn diện về tài nguyên và môi trường biển làm nền tảng cho phát triển kinh tế biển bền vững. Bên cạnh đó là các giải pháp như đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát, quản lý hệ thống dữ liệu về biển... Những giải pháp này cũng tương đồng với đề xuất của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi. Trong kiến nghị của mình, ông Thành đã đưa ra một giải pháp tổng thể đáng chú ý từ thực tiễn của Hải Phòng bao gồm các việc: Thay đổi chính sách đầu tư kết cấu hạ tầng theo hướng lấy vùng ven biển làm trục phát triển, lấy hành lang vận tải ven biển là làm hướng chính, giảm vận tải trên bộ; Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, mang đặc trưng của thành phố cảng biển, đạt tiêu chuẩn của một thành phố hiện đại; Xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể để thu hút, đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; Tăng cường hợp tác quốc tế khai thác tiềm năng, nguồn lợi từ biển trên cơ sở đảm bảo chủ quyền quốc gia và tôn trọng lợi ích các bên có liên quan.

Hoàng Mai