In bài viết

Lời thề trước cờ Đảng

(Chinhphu.vn) - "Mẹ là đảng viên mà con" - câu nói giản dị của bà Nguyễn Thị Tú, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam dành cho con gái sau 10 năm xa cách đã gói trọn cuộc đời và lý tưởng của một nữ chiến sĩ kiên cường. Vượt qua mọi cực hình tra tấn và sự hy sinh, bà để lại một di sản vô giá: Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc.

03/02/2026 13:37
Lời thề trước cờ Đảng- Ảnh 1.

Bà Nguyễn Thị Tú (thường được biết đến với tên gọi thân thương là Năm Tú)

Từ đóa hoa Trường nữ trung học đến "tinh thần thép" giữa lòng địch

Bà Nguyễn Thị Tú (thường được biết đến với tên gọi thân thương là Năm Tú) sinh năm 1923, tại Cần Thơ, trong một gia đình giàu tinh thần yêu nước. Cha mẹ bà, ông Nguyễn Văn Thâu và bà Lê Thị Mẹo đã tận hiến hàng trăm mẫu ruộng cho cách mạng đồng thời biến tiệm bánh Trần Thượng của gia đình thành "địa chỉ đỏ" an toàn, chở che cho những nhà lãnh đạo lỗi lạc như Võ Văn Kiệt, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ ngay trong lòng địch.

Trước khi trở thành một chiến sĩ cách mạng, bà Nguyễn Thị Tú từng là đóa hoa rạng rỡ của trường nữ trung học Gia Long. Cô nữ sinh áo tím với vẻ ngoài mảnh mai, đằm thắm nhưng ẩn sâu bên trong lại là một ý chí sắt đá, một "tinh thần thép". Năm 1945, bà tham gia cướp chính quyền tại Sóc Trăng với vai trò Tổng Thư ký Phụ nữ Tiền phong. Năm 1947, khi người chồng và người đồng chí thân yêu – ông Trần Thượng Tân qua đời, nén lại nỗi đau riêng, bà gạt nước mắt, gửi con cho cha mẹ, dấn thân vào các phong trào đấu tranh công khai tại Sài Gòn - Chợ Lớn.

Năm 1951 khi đang công tác nội đô tại Sài Gòn, bà vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Lao động Việt Nam. Bà cùng các trí thức tâm huyết sáng lập trường Đức Trí – một cơ sở giáo dục không chỉ đào tạo thế hệ nữ thanh niên tiến bộ mà còn là "trạm giao liên", là vỏ bọc vững chắc cho các hoạt động cách mạng nội đô. Bà đã kinh qua nhiều vị trí: Tổng Thư ký Ban chấp hành Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội trưởng Hội Phụ nữ Giải phóng, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Ban chấp hành lâm thời Trung ương Hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký và là Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Giải phóng Miền Nam Việt Nam, đồng thời là Hội trưởng Hội phụ nữ Giải phóng Sài Gòn - Gia Định….

"Địa ngục trần gian" và bản lĩnh người đảng viên

Lịch sử phong trào đấu tranh của tù chính trị miền Nam ghi dấu những năm tháng bà bị địch đày đọa qua khắp các "địa ngục trần gian": Chí Hòa, Thủ Đức, Phú Lợi, Tam Hiệp, Côn Đảo… Vượt qua những cực hình tra tấn dã man, bà vẫn can trường giữ vững khí tiết: Bảo vệ sắc cờ Tổ quốc, chống ly khai. Bà là hạt nhân đoàn kết cùng 41 nữ tù chính trị đầu tiên tại Côn Đảo đấu tranh phá tan mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù. Tại nhà thương Chợ Quán, bà từng tâm sự với một người đồng chí tên là Diệp Tú Anh: "Sống trên cõi đời này, mình không có tham vọng gì đáng kể, chỉ có một hoài vọng, một nguyện vọng của mình phải phấn đấu để trở thành một Con người chân chính". Ra khỏi nhà tù, dù bị mạng lưới công án theo dõi, bà vẫn tìm cách liên lạc với tổ chức: Thành ủy Sài Gòn-Gia Định để tiếp tục hoạt động. Hòa mình trong phong trào, bà được tiếp thêm sức mạnh. Bà làm việc say sưa, năng nổ hướng dẫn các chi hội cơ sở từ xã, huyện đến tỉnh thực hiện những nhiệm vụ chính như tham gia các cuộc đấu tranh chính trị giành thế hợp pháp, vạch trần âm mưu của địch, làm tốt công tác binh vận, ra sức bảo vệ xóm làng, chống dồn dân, lập ấp chiến lược, tăng gia sản xuất... Đồng thời, bà cũng quan tâm đề xuất với cấp ủy xây dựng trường học cho con em và quan tâm đến việc xây dựng nhà hộ sinh, tủ thuốc, túi cứu thương… để chăm sóc các bà mẹ, trẻ em ở vùng giải phóng.

Năm 1963, bà được cử đi học lớp báo chí do Trung ương Hội mở. Khi gần kết thúc lớp học, được tin cấp báo Ngô Đình Diệm bị lật đổ, nhà trường chớp thời cơ, cho các học viên tranh thủ đi thực tế. Bà tham gia đột nhập nội thành xây dựng cơ sở Hội. Cuối năm 1966, bà được gặp con gái Tố Nga tại căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Sài Gòn-Gia Định (Y4) sau 10 năm xa cách. Khi Tố Nga xin mẹ kể về những năm tháng tù đày gian khổ và những khó khăn gặp phải trong chiến tranh, bà chỉ nói: "Mẹ là đảng viên mà con". Hai chữ "đảng viên" của người phụ nữ kiên trung ấy cho Tố Nga hiểu được cốt cách của mẹ mình.

Năm 1966 bà Nguyễn Thị Tú "mất tích" trong trận càn Cedar Falls. Mãi sau này, những lời khai tại Tòa án công luận về chiến tranh Việt Nam của lính Mỹ đã tra tấn bà mới hé lộ sự thật: Bà bị tra tấn điện liên tục suốt 3 giờ đồng hồ và cuối cùng bị chôn sống. Tư thế chết ngồi, chân tay bị trói bởi những sợi dây, không có được một tấm vải liệm… chứng minh sự can trường của bà cho đến những giây phút cuối cùng.

Bà đã được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và Huân chương Độc lập hạng Nhất. Tên của bà Nguyễn Thị Tú được đặt cho một ngôi trường, một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc đời của bà Nguyễn Thị Tú không chỉ là một chương sử vàng về lòng yêu nước, mà còn là minh chứng sống động nhất cho cốt cách của người chiến sĩ cộng sản: Kiên trung, bất khuất nhưng vô cùng nhân ái. Lời thề trước cờ Đảng của bà được thực hiện bằng chính máu xương và lòng trung thành tuyệt đối. Bà không chỉ là người mẹ hiền mà còn là ngọn lửa soi đường cho các con trên hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì bình yên và hạnh phúc của nhân dân./.

Thu Hoàn