
Khu vực kinh tế tư nhân đã được định vị với vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
"Bước ngoặt" nhận thức
Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là một bước ngoặt trong tư duy phát triển. Sau một năm kể từ khi Nghị quyết được ban hành, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về những kết quả ban đầu và chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Trước hết, tôi khẳng định khu vực kinh tế tư nhân đã được định vị với vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhận thức cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội đối với khu vực này đã có sự chuyển biến có tính bước ngoặt.
Tinh thần của Nghị quyết không chỉ dừng lại ở chủ trương mà còn được cụ thể hóa bằng Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện, Nghị quyết của Quốc hội, các chỉ đạo, cơ chế, chính sách của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương.
Thực tiễn cho thấy, sau một năm triển khai Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến rõ nét cả về quy mô, chất lượng và niềm tin phát triển, đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
Thứ nhất, Nghị quyết đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh trong xã hội. Ngay sau khi Nghị quyết 68 được ban hành và được thể chế hóa thông qua Chương trình hành động của Chính phủ, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh.
Từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 37,8% so với bình quân 4 tháng đầu năm; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đạt hơn 8.300 doanh nghiệp/tháng. Tính chung năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%.
Đà phục hồi và gia nhập thị trường tiếp tục được duy trì trong 4 tháng đầu năm 2026. Cả nước ước đạt gần 75.000 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 730 nghìn tỷ đồng và gần 400.000 lao động, tăng lần lượt hơn 45% về số doanh nghiệp và gần 50% về vốn so với cùng kỳ năm 2025. Cùng kỳ, hơn 48 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 doanh nghiệp, tăng 36,7%.
Những kết quả trên cho thấy tác động bước đầu của Nghị quyết số 68 trong củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Tính đến hết ngày 18/5/2026, cả nước có hơn 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Thứ hai, cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán đã tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư.
Thị trường chứng khoán Việt Nam có bước khởi sắc mạnh mẽ sau khi Nghị quyết số 68 được ban hành. Chỉ số VN-Index liên tục tăng điểm và đã đạt gần 1.925 điểm vào phiên giao dịch ngày 15/5/2026. Giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2026 đạt khoảng 32,7 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 12,1% so với bình quân năm trước. Tính đến hết tháng 4/2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 10,5 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Con số này tương đương khoảng 82% GDP Việt Nam năm 2025 (524 tỷ USD).
Số lượng nhà đầu tư tiếp tục bùng nổ, đạt gần 13 triệu tài khoản, tăng hơn 29% so với cuối năm 2024. Hoạt động huy động vốn qua thị trường chứng khoán cũng ghi nhận kết quả tích cực. Năm 2025, quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt khoảng 744,5 nghìn tỷ đồng, tăng 42,85% so với năm 2024. Riêng thị trường trái phiếu Chính phủ, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đã huy động được 125,6 nghìn tỷ đồng, đạt khoảng 25% kế hoạch năm.
Trong trung và dài hạn, thị trường chứng khoán tiếp tục được dự báo duy trì xu hướng tích cực nhờ việc nâng hạng từ thị trường cận biên lên mới nổi thứ cấp, khả năng thu hút dòng vốn trong và ngoài nước, cũng như việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 68.
Thứ ba, hoạt động xuất nhập khẩu là điểm sáng nổi bật và là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với tổng giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 345 tỷ USD, tăng gần 25% so với cùng kỳ 2025. Trong đó, giá trị hàng hóa xuất khẩu chịu thuế đạt 61 tỷ USD, tăng 24,3% so với 4 tháng đầu năm ngoái. Nhờ vậy, ngân sách thu được từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt hơn 166.300 tỷ đồng, đạt xấp xỉ 37% dự toán và tăng 16,5%.
Cuối cùng là kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất – kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục tác động tích cực tới thu ngân sách nhà nước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa ước đạt 991 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4%. Riêng số thu do cơ quan thuế quản lý đạt khoảng 1.008 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9% dự toán và tăng 17% so với cùng kỳ; thu từ khu vực sản xuất kinh doanh tăng 31,2%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng thu ngân sách.
Việc triển khai Nghị quyết số 68 còn tạo hiệu ứng lan tỏa trong huy động nguồn lực xã hội, thu hút các tập đoàn tư nhân lớn tham gia đầu tư vào các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia. Nghị quyết không chỉ tác động tới quy mô, tốc độ gia nhập thị trường và các chỉ tiêu tài chính – thương mại trong ngắn hạn, mà còn góp phần định hình lại cấu trúc phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, gia tăng vai trò của khu vực này trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong trung và dài hạn.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm cho biết Nghị quyết 68-NQ/TW đã từng bước đi vào cuộc sống, thắp lên kỳ vọng mới về sức bật cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ - Ảnh: VGP/Minh Ngọc
Xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho kinh tế tư nhân
Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả triển khai và những chuyển biến thực chất thời gian qua?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Trên tinh thần Nghị quyết 68, công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật về đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh tiếp tục được Đảng, Nhà nước tập trung chỉ đạo quyết liệt.
Tại Phiên họp quý I/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật đã cho ý kiến về các cơ chế, chính sách lớn để thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68. Đồng thời, nhiều nội dung về phát triển kinh tế tư nhân đã được đưa vào Văn kiện Đại hội XIV, được cụ thể hóa tại các nhiệm vụ tại Kết luận 18-KL/TW của Trung ương và Nghị quyết 109/NQ-CP của Chính phủ.
Ngay từ đầu tháng 4, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường…;
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 15 Quyết định phê duyệt Phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 Bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 2.479 thủ tục hành chính. Tính đến ngày 15/4/2026, các bộ, ngành đã thực thi phương án đơn giản hóa và chủ động cắt giảm 292 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 1.640 thủ tục kinh doanh; cắt giảm 2.594/6.974 ĐKKD (đạt tỉ lệ 37,2%); tương ứng cắt giảm 30,9% thời gian thực hiện TTHC (khoảng 27.704 ngày/89.721 ngày) và 38% chi phí tuân thủ (khoảng 45,5 nghìn tỷ đồng/ 120 nghìn tỷ đồng).
Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 đã sửa đổi toàn diện, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, quan điểm của Đảng, thiết lập được khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng các dự án đầu tư.
Một điểm cải cách lớn của Luật là rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 về cải thiện môi trường kinh doanh.
Luật cũng bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó rà soát, sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần thực hiện "tiền kiểm" và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế "hậu kiểm", góp phần giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Không dừng lại ở đó, trong giữa tháng 5, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị quyết đặc thù về phân quyền, cắt giảm, đơn giản thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực và các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Từ ngày 1/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 198 xuống còn 142.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết 68-NQ/TW là tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, mặt bằng không chỉ là điều kiện sản xuất, mà còn là không gian để đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Thứ trưởng nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của chính sách này? Theo Thứ trưởng, đâu là hướng tiếp cận cần ưu tiên để chính sách mặt bằng thực sự trở thành động lực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, dư địa phát triển mặt bằng sản xuất của nước ta còn rất lớn.
Nghị quyết số 68-NQ/TW đã xác định tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao là một trong những nhóm nhiệm vụ, giải pháp quan trọng.
Trong thời gian tới, trọng tâm là phải đưa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể. Các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DNNVV theo quy định tại Nghị quyết số 198/2025/QH15, song song cần xây dựng cơ chế vận hành và có chủ thể chịu trách nhiệm đúng thẩm quyền.
Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã giao thẩm quyền cho địa phương quy định cụ thể danh mục tài sản công cho thuê, tiêu chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê đối với từng loại tài sản theo quy định tại Nghị quyết số 198/2025/QH15. Như vậy, các địa phương cần nâng cao tính chủ động để thực hiện quy định này, đảm bảo khai thác, sử dụng tài sản công đúng pháp luật và có hiệu quả.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 tháng 10/2026, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên. Mục tiêu là để chính sách về hỗ trợ mặt bằng không chỉ tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn tạo lập một "đường băng" dài hạn, giúp DNNVV có thêm không gian phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã thể chế định hướng tại Nghị quyết 68 khi giao Chính phủ xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030. Thứ trưởng có thể chia sẻ những điểm đột phá của Chương trình cũng như lộ trình triển khai trong thời gian tới?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Phần lớn doanh nghiệp tư nhân phát triển từ hộ kinh doanh gia đình nên còn hạn chế về kỹ năng quản trị như quản trị dòng tiền, nhân lực, khách hàng. Đồng thời, do quy mô nhỏ, mức độ chuyên nghiệp và khả năng trả lương còn thấp, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó thu hút nhân lực chất lượng cao.
Từ thực tiễn đó, Nghị quyết số 68 đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bản lĩnh chính trị, đạo đức kinh doanh, năng lực quản trị hiện đại, trình độ chuyên môn cao và khả năng cạnh tranh quốc tế. Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã kịp thời thể chế hóa chủ trương này, trong đó nhấn mạnh đào tạo, bồi dưỡng doanh nhân là giải pháp đột phá để nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng cho doanh nghiệp tại Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/3/2026 phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
Bộ Tài chính đang khẩn trương xây dựng và hoàn thiện Thông tư hướng dẫn thực hiện Chương trình và dự kiến sẽ triển khai ngay trong năm 2026 để đưa các chỉ đạo của Bộ Chính trị vào cuộc sống trong thời gian sớm nhất.

Doanh nghiệp làm trung tâm - Hiệu quả làm thước đo - Kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng
Năm 2026 được kỳ vọng là giai đoạn chuyển mạnh từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực hiện, từ chủ trương sang kết quả cụ thể. Từ góc độ người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, Thứ trưởng kỳ vọng điều gì ở chặng đường sắp tới? Theo Thứ trưởng, đâu là những việc cần làm quyết liệt nhất để khu vực tư nhân cảm nhận rõ hơn sự thay đổi từ chính sách?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới là làm sao để những chủ trương, chính sách đã được ban hành chuyển hóa nhanh hơn thành kết quả cụ thể trong thực tiễn. Doanh nghiệp cần cảm nhận được sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan nhà nước trong hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.
Vì vậy, từ năm 2026 cần được xem là giai đoạn hành động thực chất, tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Đối với Bộ Tài chính, các nhiệm vụ phải hoàn thành trong năm 2026 tại Nghị quyết số 138/NQ-CP và Nghị quyết số 139/NQ-CP của Chính phủ đều gắn trực tiếp với yêu cầu này. Bộ đang tập trung rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân
Trong đó, tập trung vào sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về đầu tư, thuế, phí và lệ phí, trái phiếu doanh nghiệp, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV. Đây là những công cụ quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, mở rộng kênh huy động vốn, nâng cao năng lực quản trị và tạo thêm dư địa phát triển cho doanh nghiệp.
Các bộ, ngành, địa phương cần chủ động, quyết liệt triển khai; bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ để các chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống; đảm bảo nhiệm vụ có kết quả đầu ra, KPI cụ thể và đánh giá trên mức độ tiếp cận, hài lòng của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Song song với đó, rà soát đánh giá sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật với chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân nhằm kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các VBQPPL cho phù hợp.
Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, đó là "lấy doanh nghiệp làm trung tâm – lấy hiệu quả làm thước đo – lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng". Phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh từ thực tiễn, là yêu cầu chiến lược lâu dài, là thước đo năng lực điều hành của bộ máy nhà nước.
Với vai trò là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, Bộ Tài chính sẽ luôn tiên phong đổi mới, đồng hành cùng doanh nghiệp, hộ kinh doanh để tháo gỡ thực chất các rào cản, tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực phát triển, qua đó đưa khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đúng như tinh thần của Nghị quyết 68.
Xin cảm ơn Thứ trưởng đã dành thời gian chia sẻ!
Minh Ngọc (thực hiện)