In bài viết

Mức sinh thấp: Thách thức đối với tương lai phát triển quốc gia

(Chinhphu.vn) - Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của công tác dân số khi mức sinh đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế, trong khi già hóa dân số diễn ra nhanh và nguy cơ thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai ngày càng rõ nét. Tại Hội thảo chuyên đề công tác dân số năm 2026 do Bộ Y tế và UBND tỉnh Cà Mau tổ chức ngày 29/7, nhiều chuyên gia cho rằng bài toán dân số hiện nay không còn chỉ là câu chuyện của mỗi gia đình mà đã trở thành vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của quốc gia.

29/07/2026 17:54
Mức sinh thấp: Thách thức đối với tương lai phát triển quốc gia- Ảnh 1.

Hội thảo chuyên đề công tác dân số năm 2026 tại Cà Mau thu hút đông đảo chuyên gia, nhà quản lý và cán bộ làm công tác dân số tham dự - Ảnh: VGP/LS

Từ lợi thế dân số đến áp lực mức sinh thấp

"Việc sinh con trong thế kỷ XXI quyết định vận mệnh quốc gia". Đó là thông điệp xuyên suốt bài tham luận của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân tại hội thảo. Theo ông, trong bối cảnh mới, việc sinh con không còn đơn thuần là lựa chọn của mỗi gia đình mà trở thành yếu tố quyết định khả năng duy trì nguồn nhân lực, tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển lâu dài của mỗi quốc gia.

Thông điệp này được đặt ra trong bối cảnh Việt Nam đang chứng kiến những biến đổi lớn về dân số.

Theo Bộ Y tế, quy mô dân số nước ta năm 2025 đạt hơn 102,3 triệu người, đứng thứ ba Đông Nam Á và thứ 16 thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về quy mô dân số, tốc độ tăng dân số đã giảm mạnh, từ 3,93% năm 1960 xuống còn 0,99% năm 2025.

Riêng tại Cà Mau, tổng tỉ suất sinh hiện chỉ đạt 1,63 con/phụ nữ, tỉ số giới tính khi sinh khoảng 104 bé trai/100 bé gái.

Đáng chú ý hơn, Việt Nam chính thức đạt mức sinh thay thế vào năm 2006 với tổng tỉ suất sinh (TFR) 2,09 con/phụ nữ và duy trì quanh mức này trong nhiều năm. Tuy nhiên, từ năm 2021 đến nay, mức sinh toàn quốc đã giảm xuống dưới ngưỡng thay thế; năm 2024 là 1,91 con/phụ nữ và năm 2025 nhích lên 1,93 con/phụ nữ, nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế.

Song song đó, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người Việt Nam tiếp tục tăng, đạt 27,3 tuổi vào năm 2024; trong đó nam là 29,4 tuổi và nữ là 25,2 tuổi. Những xu hướng này phản ánh sự thay đổi về điều kiện kinh tế-xã hội, quan niệm hôn nhân, việc làm và lựa chọn của các cặp vợ chồng trẻ.

Theo các chuyên gia, nếu trước đây Việt Nam tập trung giải quyết bài toán tăng dân số nhanh thì hiện nay thách thức đã chuyển sang một trạng thái hoàn toàn khác: Làm thế nào để duy trì mức sinh thay thế nhằm bảo đảm quy mô dân số và nguồn lao động trong tương lai.

Mức sinh thấp: Thách thức đối với tương lai phát triển quốc gia- Ảnh 2.

GS.TS Nguyễn Thiện Nhân: Mức sinh thay thế không chỉ là mục tiêu dân số mà còn là nền tảng bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển đất nước - Ảnh: VGP/Duy Phong

Mức sinh thấp và bài toán thiếu lao động trong tương lai

Điểm mới và cũng là giá trị nổi bật trong bài tham luận của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân là tiếp cận vấn đề dân số từ góc độ phát triển kinh tế.

Mức sinh thay thế là điều kiện để một quốc gia bảo đảm mỗi thế hệ lao động mới có thể thay thế đầy đủ thế hệ lao động trước đó. Khi mức sinh duy trì dưới ngưỡng thay thế trong thời gian dài, tỉ lệ tái tạo lao động sẽ giảm, dẫn đến quy mô lực lượng lao động ngày càng thu hẹp qua từng thế hệ.

Bài tham luận dẫn số liệu của The Lancet (2024) cho thấy nhiều quốc gia phát triển đã duy trì mức sinh dưới mức thay thế trong hàng chục năm. Đến năm 2025, Nhật Bản có 52 năm, Đức 55 năm, Hàn Quốc 43 năm ở tình trạng này; mức sinh năm 2024 của Nhật Bản là 1,15, Hàn Quốc 0,75, Đức 1,45, trong khi Việt Nam là 1,91 con/phụ nữ.

Khi số trẻ em sinh ra giảm, sau khoảng hai đến ba thập kỷ sẽ kéo theo sự suy giảm của lực lượng lao động. Đây là mối quan hệ mang tính quy luật giữa dân số và phát triển kinh tế mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt.

Từ đó, GS.TS Nguyễn Thiện Nhân đưa ra một luận điểm đáng chú ý: Người lao động có vai trò kép. Họ vừa là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, vừa là những người tạo ra các thế hệ lao động tương lai thông qua việc sinh và nuôi dạy con cái. Vì vậy, nếu người lao động không có đủ điều kiện về thu nhập, nhà ở, việc làm và môi trường sống để yên tâm sinh đủ con thì việc mức sinh tiếp tục giảm là điều khó tránh khỏi.

Theo cách tiếp cận này, tăng trưởng GDP phụ thuộc đồng thời vào năng suất lao động và số lượng lao động đang làm việc. Nếu năng suất lao động tăng nhưng lực lượng lao động liên tục suy giảm thì tăng trưởng kinh tế về dài hạn vẫn sẽ chịu sức ép lớn.

Vì vậy, theo GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, bảo đảm mức sinh thay thế không chỉ là mục tiêu của công tác dân số mà còn là điều kiện quan trọng để duy trì nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho phát triển bền vững của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Chuyển tư duy từ 'điều chỉnh mức sinh' sang 'bảo đảm mức sinh thay thế'

Trước những thay đổi sâu sắc về cơ cấu dân số, công tác dân số của Việt Nam cũng đang bước sang một giai đoạn mới với sự điều chỉnh cả về tư duy lẫn chính sách.

Theo Bộ Y tế, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, đã xác định chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, giải quyết toàn diện các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số. Mục tiêu không chỉ là duy trì mức sinh hợp lý mà còn tận dụng hiệu quả thời kỳ cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tiếp đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chính sách dân số phù hợp với giai đoạn phát triển mới, trong đó có nhiệm vụ gia tăng tỉ lệ sinh để đạt mức sinh thay thế bền vững, thích ứng với già hóa dân số và nâng cao chất lượng dân số. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách, phản ánh sự thay đổi của bài toán dân số ở Việt Nam sau nhiều thập niên tập trung kiểm soát mức sinh.

Trên cơ sở đó, Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 cũng được điều chỉnh theo hướng ưu tiên duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước. Nếu trước đây nhiều địa phương triển khai các giải pháp giảm sinh thì nay trọng tâm là khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, nhất là tại những địa phương có mức sinh thấp kéo dài. Cùng với đó là việc nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ về nhà ở, việc làm, chăm sóc trẻ em, tạo điều kiện để các gia đình trẻ yên tâm sinh con và nuôi dạy con.

Theo GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, để những chính sách này phát huy hiệu quả, cần nhìn nhận công tác dân số như một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia. Một quốc gia chỉ có thể duy trì tăng trưởng bền vững khi vừa nâng cao năng suất lao động, vừa bảo đảm quy mô lực lượng lao động giữa các thế hệ. Vì vậy, chính sách dân số, chính sách lao động, giáo dục, an sinh xã hội và phát triển kinh tế cần được thiết kế đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung là phát triển con người và phát triển đất nước.

Mức sinh thấp: Thách thức đối với tương lai phát triển quốc gia- Ảnh 3.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Ngô Vũ Thăng nhấn mạnh cần triển khai hiệu quả Luật Dân số 2025, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực - Ảnh: VGP/LS

Muốn người trẻ sinh con, chính sách phải thay đổi

Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm tại hội thảo là việc triển khai Luật Dân số năm 2025 - đạo luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện lĩnh vực dân số trong bối cảnh Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới.

Trong bài tham luận, GS.TS Nguyễn Thiện Nhân phân tích Luật Dân số 2025 không chỉ kế thừa những thành tựu của công tác dân số nhiều năm qua mà còn hướng tới giải quyết các vấn đề mới như mức sinh thấp, già hóa dân số, chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực; việc đưa luật vào cuộc sống sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý để các chính sách dân số được triển khai đồng bộ, lâu dài và hiệu quả hơn.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Ngô Vũ Thăng cho biết hội thảo là dịp để các địa phương cập nhật những chủ trương, chính sách mới của Trung ương về công tác dân số; đồng thời trao đổi kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm triển khai hiệu quả Luật Dân số 2025 trong thời gian tới.

Theo ông Ngô Vũ Thăng, trong bối cảnh mức sinh thấp và già hóa dân số đang trở thành xu hướng chung, công tác dân số không còn là nhiệm vụ riêng của ngành y tế mà cần có sự phối hợp của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Việc triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách về dân số sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương cũng như cả nước.

Đầu tư cho trẻ em hôm nay là đầu tư cho tương lai quốc gia

Nhìn từ các phân tích tại hội thảo, có thể thấy Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt mới trong chính sách dân số. Nếu nhiều thập niên trước, thành công được đo bằng việc giảm tốc độ gia tăng dân số thì hiện nay, thành công lại được đo bằng khả năng duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm sự kế tiếp giữa các thế hệ và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Khi mức sinh được duy trì ở ngưỡng hợp lý, Việt Nam sẽ có điều kiện bảo đảm nguồn nhân lực cho tương lai, thích ứng với già hóa dân số và tiếp tục phát huy lợi thế của một quốc gia đang phát triển. Ngược lại, nếu mức sinh tiếp tục giảm trong thời gian dài, những tác động đối với thị trường lao động, tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội sẽ ngày càng rõ nét trong những thập niên tới.

Lê Sơn