In bài viết

Muốn có nhà khoa học, phải đầu tư từ khi còn là nghiên cứu sinh

(Chinhphu.vn) - Muốn có đội ngũ nhà khoa học kế cận, không thể chờ đến khi người học hoàn thành chương trình tiến sĩ mới bắt đầu tìm kiếm và tuyển dụng. Tạo nguồn cần được bắt đầu ngay từ khi còn là nghiên cứu sinh, bằng học bổng, điều kiện nghiên cứu và một lộ trình nghề nghiệp đủ rõ để người trẻ yên tâm theo đuổi con đường khoa học.

12/09/2026 19:21
Muốn có nhà khoa học, phải đầu tư từ khi còn là nghiên cứu sinh- Ảnh 1.

PGS.TS Đặng Hồng Sơn: Muốn có nhà khoa học, phải đầu tư từ khi còn là nghiên cứu sinh - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Trang

Sau Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài và đào tạo sau đại học tiếp tục được quan tâm. Nguồn lực cũng được ưu tiên cho nghiên cứu khoa học, trong đó có nghiên cứu cơ bản gắn với đào tạo sau đại học.

Nghị định số 179/2026/NĐ-CP đã quy định chính sách học bổng dành cho nghiên cứu sinh thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Một số địa phương, cơ sở giáo dục đại học cũng triển khai chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh, trong đó có những chương trình hỗ trợ lên tới hàng trăm triệu đồng.

Tuy nhiên, mức độ đầu tư giữa các lĩnh vực vẫn còn khác nhau. Với khoa học xã hội và nhân văn, chính sách hỗ trợ dành riêng cho nghiên cứu sinh chưa thật sự phổ biến, chủ yếu vẫn là miễn, giảm học phí hoặc hỗ trợ thông qua các đề tài, dự án nghiên cứu.

Trong bối cảnh đó, việc đầu tư trực tiếp cho nguồn nhân lực nghiên cứu, giảng dạy tương lai ngay từ giai đoạn nghiên cứu sinh đang được một số cơ sở giáo dục đại học triển khai như một hướng đi nhằm chủ động tạo nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao.

Tạo nguồn từ khi người trẻ bắt đầu làm khoa học

Tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, chính sách dành cho nghiên cứu sinh thuộc diện “tạo nguồn” được thiết kế theo hướng coi đây là lực lượng nghiên cứu, giảng dạy kế cận của nhà trường.

Theo đó, nghiên cứu sinh được hỗ trợ 100% học phí trong thời gian đào tạo theo quy định, tương đương khoảng 50 triệu đồng/năm, đồng thời được hỗ trợ về sinh hoạt, nghiên cứu, công bố quốc tế và các hoạt động học thuật.

PGS.TS Đặng Hồng Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng, xây dựng đội ngũ kế cận phải được bắt đầu từ sớm. Nếu chỉ đến khi một vị trí cần người mới bắt đầu tìm kiếm, tuyển dụng thì nhà trường khó có thể chủ động về chất lượng và nguồn nhân lực.

“Tạo nguồn” vì thế không đơn thuần là cấp học bổng cho người học. Quan trọng hơn, nhà trường xác định từ sớm những người trẻ có tiềm năng, tạo điều kiện để họ được đào tạo bài bản, tham gia nghiên cứu và từng bước hình thành năng lực của một nhà khoa học.

Theo mô hình này, nhiệm vụ trọng tâm của nghiên cứu sinh là hoàn thành luận án tiến sĩ và phát triển năng lực nghiên cứu. Với người đã có bằng thạc sĩ, thời gian đào tạo chuẩn là 3 năm; trường hợp đào tạo từ bậc đại học là 4 năm.

Trong thời gian đào tạo, nghiên cứu sinh không phải đảm nhiệm công việc hành chính; hoạt động hỗ trợ giảng dạy cũng được giới hạn ở mức phù hợp, khoảng 20 giờ/năm. Mỗi nghiên cứu sinh được giảng viên có kinh nghiệm hướng dẫn, đồng hành trong quá trình nghiên cứu.

Theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, cách tiếp cận này xuất phát từ một thực tế: nếu người trẻ phải đồng thời lo việc làm, thu nhập và các công việc ngoài chuyên môn, rất khó đòi hỏi họ dành toàn bộ thời gian và tâm sức cho nghiên cứu khoa học.

Bởi vậy, đầu tư cho nghiên cứu sinh không chỉ dừng ở học phí mà cần tạo được điều kiện để họ có thể thực sự “sống được với nghiên cứu”. Ngoài học phí, chính sách còn bao gồm hỗ trợ sinh hoạt, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí tham dự các hoạt động học thuật ở nước ngoài, công bố quốc tế, tham gia các đề tài, dự án nghiên cứu.

Một số khoản hỗ trợ có thể lên tới 25 triệu đồng cho hoạt động học thuật ở nước ngoài; nghiên cứu sinh bảo vệ luận án sớm, đúng hạn và đáp ứng yêu cầu còn có thể được thưởng tới 50 triệu đồng.

Tính chung, tổng mức hỗ trợ có thể đạt khoảng 580-750 triệu đồng cho một nghiên cứu sinh trong thời gian 3-4 năm.

Đây là khoản đầu tư không nhỏ. Nhưng nếu đặt trong bài toán phát triển đội ngũ khoa học dài hạn, giá trị của khoản đầu tư không chỉ nằm ở một tấm bằng tiến sĩ, mà ở việc hình thành một nhà nghiên cứu có năng lực, có sản phẩm khoa học và có khả năng tiếp tục phát triển trong môi trường đại học.

Đầu tư phải đi cùng đầu ra và một con đường nghề nghiệp

Tuy nhiên, PGS.TS Đặng Hồng Sơn cũng nhấn mạnh, một chính sách đầu tư lớn cũng đòi hỏi những cam kết tương xứng về chất lượng đầu ra.

"Nghiên cứu sinh được hỗ trợ phải hoàn thành chương trình đúng thời hạn, đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ, thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và có công bố khoa học quốc tế theo yêu cầu, trong đó có ít nhất một công bố trên các hệ thống WoS hoặc Scopus.

Cùng với đó là yêu cầu tham gia các hoạt động nghiên cứu, hội thảo, đề tài, dự án và đóng góp cho môi trường học thuật của nhà trường", PGS.TS Đặng Hồng Sơn nói.

Như vậy, mối quan hệ giữa nhà trường và nghiên cứu sinh được đặt trên nguyên tắc đầu tư đi đôi với trách nhiệm, hỗ trợ đi đôi với sàng lọc bằng kết quả. Những người được đầu tư không chỉ nhận sự hỗ trợ về tài chính mà còn phải chứng minh bằng năng lực và sản phẩm nghiên cứu.

Cách làm này vừa tạo động lực để nghiên cứu sinh tập trung cho khoa học, vừa giúp nhà trường tránh đầu tư dàn trải, hướng nguồn lực vào những người thực sự có năng lực và triển vọng.

Tuy nhiên, tạo nguồn mới chỉ là bước đầu. Bài toán quan trọng hơn là làm thế nào để những người trẻ sau khi nhận bằng tiến sĩ tiếp tục ở lại với con đường khoa học.

Một tiến sĩ trẻ có nhiều lựa chọn về nghề nghiệp. Nếu môi trường đại học không có vị trí việc làm phù hợp, không có nhóm nghiên cứu, nguồn kinh phí nghiên cứu và cơ hội phát triển nghề nghiệp, khoản đầu tư trong những năm đào tạo rất khó chuyển hóa thành một đội ngũ khoa học lâu dài.

Vì vậy, chính sách tạo nguồn cần được nối tiếp bằng một lộ trình nghề nghiệp rõ ràng: từ nghiên cứu sinh đến giảng viên, nghiên cứu viên; từ tham gia nhóm nghiên cứu đến từng bước hình thành nhóm nghiên cứu riêng; từ thực hiện đề tài đến chủ trì các nhiệm vụ khoa học và phát triển thành những nhà khoa học có năng lực độc lập.

Đây cũng là yếu tố quyết định để giữ người trẻ ở lại với môi trường học thuật.

Mục tiêu cuối cùng của chính sách tạo nguồn vì thế không nên chỉ là làm tăng số lượng người có bằng tiến sĩ, mà phải hình thành một thế hệ nhà khoa học trẻ có năng lực nghiên cứu, có khả năng giảng dạy, có sản phẩm khoa học và có triển vọng phát triển lâu dài.

Muốn vậy, quá trình đầu tư phải bắt đầu đủ sớm, tập trung đúng người, gắn với kết quả và được nối dài bằng một con đường nghề nghiệp rõ ràng.

Nói cách khác, theo PGS.TS Đặng Hồng Sơn, để có nhà khoa học của tương lai, không thể chỉ “tuyển người” khi vị trí đã trống. Cần tạo nguồn từ khi người trẻ còn đang học, đầu tư khi họ bắt đầu làm khoa học và tạo môi trường để họ trưởng thành thành những nhà khoa học độc lập.

Thu Trang