In bài viết

Nghiên cứu nhiều, thương mại hóa ít: Vì sao kết quả khoa học khó ra thị trường?

(Chinhphu.vn) - Các trường đại học đang đóng góp phần lớn công bố khoa học và đơn đăng ký sáng chế của cả nước, nhưng nguồn thu từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng, vấn đề hiện nay không chỉ nằm ở năng lực nghiên cứu mà còn ở cơ chế đặt hàng, tài trợ và tổ chức hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

23/10/2026 13:48

Liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, hiệu quả hợp tác không chỉ được đánh giá qua số lượng chương trình ký kết hay đề tài nghiên cứu, mà quan trọng hơn là khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) tổ chức sáng ngày 23/10, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Phạm Quang Hưng cho biết, các điều kiện về chính sách, thể chế cơ bản đã được hình thành. Vấn đề cần tập trung hiện nay là tổ chức thực hiện, chuyển những chủ trương, chính sách thành các đơn đặt hàng có kinh phí, những liên minh hợp tác có cơ chế quản trị và những sản phẩm có người sử dụng. 

Nghiên cứu nhiều, thương mại hóa ít: Vì sao kết quả khoa học khó ra thị trường?- Ảnh 1.

Thứ trưởng Phạm Quang Hưng cho biết, vấn đề hiện nay không chỉ nằm ở năng lực nghiên cứu mà phải chuyển những chủ trương, chính sách thành các đơn đặt hàng có kinh phí - Ảnh: chinhphu.vn/Mai Anh

Năng lực nghiên cứu lớn, nguồn thu chuyển giao còn thấp

Hệ thống giáo dục đại học hiện có hơn 95.000 giảng viên, gần 64.000 nghiên cứu sinh, tập trung khoảng 83% lực lượng nghiên cứu của cả nước. Trong khi đó, khoảng 97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D). Tổng chi cho R&D của toàn xã hội mới ở mức khoảng 0,4–0,5% GDP.

Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, thực tế này cho thấy sự cần thiết phải kết nối nguồn lực nghiên cứu của các trường đại học với nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh các địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Năm 2025, khối đại học có hơn 21.000 công bố khoa học thuộc hệ thống Scopus và Web of Science, tăng khoảng 16,1%, chiếm gần 84% tổng số công bố của cả nước. Trong 9 tháng năm 2026, các trường đã nộp 513 đơn đăng ký sáng chế, vượt kết quả của cả năm 2025.

Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cũng bước đầu tạo nguồn thu cho một số cơ sở giáo dục đại học. Năm 2025, Đại học Quốc gia TPHCM đạt doanh thu 137 tỷ đồng, trong đó khoảng 60% từ nghiên cứu đặt hàng; Đại học Quốc gia Hà Nội đạt trên 52 tỷ đồng. Riêng Đại học Bách khoa Hà Nội đạt trên 41 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026.

Tuy nhiên, nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ mới chiếm khoảng 4,94% tổng nguồn thu của các trường đại học. Con số này cho thấy kết quả nghiên cứu chưa thực sự trở thành nguồn lực tài chính đáng kể đối với phần lớn cơ sở đào tạo.

Khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn thể hiện ở mức độ hoàn thiện của các sản phẩm công nghệ. Bộ GDĐT đã tổng hợp danh mục hơn 1.000 sản phẩm công nghệ sẵn sàng chuyển giao của 41 đơn vị thuộc 19 bộ, ngành, địa phương. Trong đó, 334 sản phẩm đạt mức độ sẵn sàng công nghệ từ 7 đến 9, có khả năng chuyển giao ngay, nhưng vẫn còn 484 sản phẩm chưa xác định được mức độ sẵn sàng công nghệ.

Đáng chú ý, số sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược còn ít, với 38 sản phẩm trí tuệ nhân tạo và 7 sản phẩm bán dẫn.

Theo Thứ trưởng, phần lớn kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước mới dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ từ 3 đến 4, trong khi doanh nghiệp thường cần sản phẩm đạt tối thiểu mức 6 đến 7 để có thể ứng dụng. Đây là khoảng cách khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó vượt qua giai đoạn thử nghiệm để tiến tới thương mại hóa. 

Nghiên cứu nhiều, thương mại hóa ít: Vì sao kết quả khoa học khó ra thị trường?- Ảnh 2.

Khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn lớn

Thiếu cơ chế đặt hàng nghiên cứu và cầu nối chuyên nghiệp

Bên cạnh những hạn chế trong quá trình hoàn thiện công nghệ, điểm nghẽn lớn của liên kết ba nhà hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện.

Kết quả khảo sát 211 cơ sở đào tạo và doanh nghiệp năm 2026 cho thấy nhu cầu hợp tác giữa hai phía còn chênh lệch đáng kể. Trong khi các trường đại học đánh giá nhu cầu hợp tác ở mức khoảng 4/5 điểm, mức đánh giá của nhóm doanh nghiệp FDI chỉ đạt 2,68 điểm.

Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, nhu cầu hợp tác của các trường đại học khá lớn nhưng sự tham gia thực tế của doanh nghiệp còn hạn chế. Một nguyên nhân là thiếu những cơ chế hợp tác cụ thể, trong đó xác định rõ nhu cầu, trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích của các bên.

Hiện cả nước có khoảng 120 văn phòng chuyển giao công nghệ, song phần lớn chưa hoạt động chuyên nghiệp. Đây là khâu trung gian quan trọng bởi các nhà khoa học có thế mạnh về nghiên cứu nhưng không phải ai cũng có khả năng thương mại hóa sản phẩm, tìm kiếm khách hàng hay đàm phán hợp đồng. Doanh nghiệp cũng khó nắm bắt đầy đủ những công nghệ, sản phẩm mà các trường đang nghiên cứu.

Từ thực tế này, Thứ trưởng đặt ra bốn vấn đề cần giải quyết: Ai đặt hàng và trả tiền cho nghiên cứu? Nguồn kinh phí nào hỗ trợ giai đoạn hoàn thiện công nghệ, nhất là từ mức độ sẵn sàng 4 đến 7? Ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro? Và kết quả hợp tác được đo lường như thế nào?

Đặc biệt, cơ chế chấp nhận rủi ro là vấn đề được nhiều cơ sở giáo dục đại học quan tâm. Dù các quy định pháp luật cơ bản đã được hoàn thiện, một số người đứng đầu cơ sở đào tạo vẫn còn e ngại khi quyết định đầu tư cho những hoạt động nghiên cứu có khả năng không đạt kết quả như dự kiến.

Thực tế đã có những mô hình hợp tác bước đầu mang lại kết quả. Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai chương trình nghiên cứu trí tuệ nhân tạo phối hợp với Bộ Công an; Đại học Giao thông vận tải đã có sản phẩm nghiên cứu bàn giao cho doanh nghiệp. Đại học Quốc gia TPHCM phối hợp với địa phương và doanh nghiệp triển khai 353 nhiệm vụ khoa học, công nghệ, trong khi Đà Nẵng áp dụng cơ chế đặt hàng kép.

Điểm chung của những mô hình này là nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi và có đơn vị đủ năng lực điều phối hợp tác. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, đây mới chỉ là một số điểm sáng, chưa trở thành phương thức hợp tác phổ biến. 

Nghiên cứu nhiều, thương mại hóa ít: Vì sao kết quả khoa học khó ra thị trường?- Ảnh 3.

Liên kết ba nhà phải gắn với đặt hàng và nguồn kinh phí cụ thể.

Đưa hợp tác ba nhà vào những hợp đồng cụ thể

Để tháo gỡ những vướng mắc hiện nay, Bộ GDĐT kiến nghị cho phép thí điểm Chương trình Liên minh nghiên cứu hợp tác ba nhà theo cơ chế đồng tài trợ, tham khảo kinh nghiệm tổ chức các trung tâm nghiên cứu hợp tác của Australia.

Theo đề xuất, các dự án được triển khai theo quy mô tăng dần, gắn với năng lực thực hiện và mức độ tham gia của doanh nghiệp. Hợp tác phải được xác lập bằng hợp đồng cụ thể, có kinh phí đối ứng từ doanh nghiệp và giải ngân ngân sách theo tiến độ, kết quả thực hiện. Những hoạt động chỉ dừng ở biên bản ghi nhớ, chưa hình thành nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể sẽ không được tính là kết quả hợp tác.

Bộ GDĐT cũng đề xuất thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học tại Đại học Bách khoa Hà Nội theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, trước mắt tối đa 15 doanh nghiệp trong 24 tháng. Đây là hướng đi nhằm tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu phát triển thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng khai thác thương mại.

Đối với những dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, vi mạch bán dẫn, Bộ GDĐT kiến nghị các tập đoàn, doanh nghiệp và địa phương đặt hàng đào tạo nhân lực ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Thứ trưởng Phạm Quang Hưng nhấn mạnh, công tác đào tạo phải đi trước một bước, bởi việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cần nhiều năm, không thể đợi đến khi dự án triển khai mới bắt đầu.

Cùng với đó, Bộ GDĐT kiến nghị thành lập tổ công tác liên ngành để phối hợp tháo gỡ vướng mắc giữa các bộ, ngành, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học; đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn cơ chế chi theo sản phẩm cuối cùng, cơ chế miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện đúng quy trình và bổ sung nguồn lực hỗ trợ giai đoạn hoàn thiện công nghệ từ mức sẵn sàng 4 đến 7.

Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, liên kết ba nhà cần chuyển từ những thỏa thuận mang tính nguyên tắc sang các nhiệm vụ có người đặt hàng, có nguồn kinh phí, có cơ chế quản trị và có sản phẩm được sử dụng. Đó cũng là điều kiện để năng lực nghiên cứu của các trường đại học được khai thác hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và đóng góp thiết thực cho tăng trưởng kinh tế. 

Thu Trang