In bài viết

Người lao động Việt Nam chi trả bao nhiêu để làm việc ở nước ngoài?

(Chinhphu.vn) - Theo Báo cáo “Phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài – Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững 10.7.1”, chi phí bình quân người lao động Việt Nam chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8%, từ 164,9 triệu đồng năm 2021 xuống còn 125,7 triệu đồng năm 2025.

08/09/2026 15:34
Người lao động Việt Nam chi trả bao nhiêu để làm việc ở nước ngoài?- Ảnh 1.

Các đại biểu tham dự Hội thảo - Ảnh: chinhphu.vn/Thùy Dung

Các kết quả của Báo cáo được công bố tại Hội thảo quốc gia do Cục Thống kê phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) tổ chức tại Hà Nội vào sáng 8/9.

Báo cáo do Cục Thống kê xây dựng trên cơ sở số liệu từ Điều tra Lao động và việc làm năm 2025 và Khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025, với sự hỗ trợ kỹ thuật của IOM trong quá trình khảo sát và phân tích, cùng nguồn tài trợ của Liên minh châu Âu (EU) và Chính phủ Thụy Điển

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo các bộ, ban, ngành, các cơ quan Liên Hợp Quốc, đối tác phát triển, giới học thuật và các cơ quan, tổ chức liên quan nhằm thảo luận về vai trò của số liệu thống kê chính thức về di cư lao động trong xây dựng chính sách, tăng cường quản trị, bảo vệ người lao động di cư và theo dõi tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) tại Việt Nam.

Theo đó, Việt Nam tiếp tục có những bước tiến trong việc xây dựng và sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê đầy đủ, tin cậy và kịp thời phục vụ theo dõi di cư lao động.

Báo cáo cho thấy nhiều tín hiệu tích cực: Thu nhập bình quân trong tháng làm việc đầu tiên ở nước ngoài tăng 25,4%, từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng.

Bên cạnh đó, chỉ tiêu SDG 10.7.1 - phản ánh tỷ lệ giữa tổng chi phí do người lao động chi trả để làm việc ở nước ngoài và thu nhập trong tháng làm việc đầu tiên ở nơi đến, đã giảm từ 7,4 trong năm 2021 xuống còn 4,5 trong năm 2025. Điều này có nghĩa là, năm 2025, chi phí bình quân để có được việc làm ở nước ngoài tương đương khoảng 4,5 tháng thu nhập, giảm so với mức 7,4 tháng vào năm 2021.

Ngoài cung cấp những kết quả chung, báo cáo còn cung cấp các phân tích theo giới tính, khu vực cư trú, trình độ kỹ năng, thị trường tiếp nhận và phương thức tìm việc, qua đó cho thấy sự đa dạng về đặc điểm và trải nghiệm của các nhóm lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài.

Ngoài ra, khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025 còn cung cấp thêm thông tin về một số khía cạnh của trải nghiệm di cư lao động như: Điều kiện làm việc, khả năng tiếp cận các cơ chế hỗ trợ, tình trạng việc làm sau khi trở về, việc sử dụng kỹ năng và dự định di cư trong tương lai. Các thông tin này góp phần làm rõ hơn những yếu tố tác động đến trải nghiệm di cư của người lao động và cung cấp bằng chứng phục vụ phân tích chính sách.

Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, số liệu thống kê là cơ sở phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, quá trình di cư và những yếu tố tác động đến quyết định di cư; qua đó cung cấp bằng chứng phục vụ nghiên cứu, phân tích cũng như theo dõi các mục tiêu phát triển.

Phát biểu tại sự kiện, ông Gonzalo Serrano de la Rosa, Phó Trưởng Ban hợp tác, Phái đoàn EU tại Việt Nam chia sẻ, di cư không chỉ là một vấn đề lao động mà còn là một vấn đề phát triển, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành và các quốc gia.

"Thông qua cách tiếp cận 'Nhóm châu Âu' (Team Europe), quy tụ EU và các quốc gia thành viên EU, chúng tôi cam kết đồng hành cùng Việt Nam và các đối tác trong việc củng cố cơ sở bằng chứng và năng lực thể chế phục vụ quản trị di cư hiệu quả. Đầu tư vào con người, tri thức và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng chính là nền tảng để di cư lao động đóng góp tích cực cho phát triển bền vững, đồng thời mang lại những lợi ích lâu dài cho người lao động, xã hội và nền kinh tế", đại diện Phái đoàn EU bày tỏ.

Trong thời gian tới, báo cáo khuyến nghị sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống dữ liệu về di cư lao động quốc tế, tăng cường tính liên tục và khả năng so sánh của số liệu, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu trong xây dựng và triển khai chính sách. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy di cư an toàn, hợp pháp, có trật tự và bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của người lao động di cư./.

Thùy Dung