In bài viết

Nhiều doanh nghiệp Việt khẳng định năng lực làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm chiến lược

(Chinhphu.vn) - Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số doanh nghiệp trong nước đã bước đầu làm chủ các công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

31/03/2026 16:08
Nhiều doanh nghiệp Việt khẳng định năng lực làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm chiến lược- Ảnh 1.

Một số doanh nghiệp trong nước đã bước đầu làm chủ các công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược - Ảnh: VGP

Bước đầu hình thành các yếu tố nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược

Thời gian qua, thể chế, chính sách về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được tích cực hoàn thiện, đặc biệt là đối với phát triển công nghệ chiến lược – lĩnh vực được xác định giữ vai trò then chốt trong nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo đó, các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ đã phối hợp tích cực trong xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật từ luật, nghị định đến thông tư và hướng dẫn chuyên ngành.

Nổi bật là Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã quy định rõ các chương trình, nhiệm vụ phục vụ phát triển công nghệ chiến lược. Cùng với đó, Luật Công nghệ cao năm 2025 đã xác lập khung khái niệm, tiêu chí và chính sách đối với công nghệ chiến lược, sản phẩm và doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, các luật liên quan như thuế, hải quan, đấu thầu cũng được điều chỉnh theo hướng tăng cường ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ chiến lược.

Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo kết luận số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược trên cơ sở Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Việc hoàn thiện danh mục được thực hiện theo hướng bám sát tiêu chí của Luật Công nghệ cao, đồng thời quán triệt yêu cầu: Công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; gắn với lợi thế trong nước; có khả năng hình thành sản phẩm, thị trường và chuỗi giá trị.

Danh mục này cũng được định hướng phân loại rõ giữa các nhóm công nghệ có thể triển khai ngay với vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp và các công nghệ nền tảng, công nghệ lõi cần Nhà nước tập trung đầu tư. Qua đó, bảo đảm phân bổ nguồn lực có trọng tâm, tránh dàn trải, hướng tới hình thành các ngành công nghiệp mới và tăng cường tự chủ công nghệ.

Về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đến nay đã công bố 249 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và 19 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) phục vụ phát triển công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng đồng bộ, tập trung và gắn chặt với yêu cầu phát triển thực tiễn.

Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn phải "đi trước một bước", làm cơ sở định hướng phát triển công nghệ, sản phẩm và thị trường, đồng thời tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng hình thành ngành công nghiệp mới, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai xây dựng các tiêu chuẩn này và dự kiến hoàn thành trong năm 2026.

Về hạ tầng khoa học và công nghệ, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ công nghệ chiến lược và đang tiếp tục lấy ý kiến các cơ quan liên quan để hoàn thiện đề án.

Ngoài ra, nhiều dự án lớn đã và đang được triển khai. Điển hình, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đầu tư Trung tâm Vũ trụ Việt Nam với tổng mức đầu tư hơn 7.300 tỷ đồng. Tập đoàn Viettel đã khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam. Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, các doanh nghiệp lớn như FPT, Viettel, VNPT, CMC, Zalo đã đầu tư hàng nghìn GPU, bước đầu hình thành hạ tầng tính toán phục vụ nghiên cứu và phát triển AI trong nước.

Hoạt động sở hữu trí tuệ cũng ghi nhận sự gia tăng rõ rệt. Trong 8 tháng (từ 30/6/2025 đến 28/2/2026), số đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích liên quan đến 11 nhóm công nghệ chiến lược của các chủ thể Việt Nam tăng 23%, trong khi số văn bằng bảo hộ tăng tới 41%.

Ở cấp bộ, ngành, nhiều kết quả đáng ghi nhận đã đạt được. Cụ thể, Bộ Quốc phòng xác định 45 nhóm sản phẩm chiến lược và giao nhiệm vụ cụ thể cho doanh nghiệp. Bộ Công an làm chủ 3 nhóm công nghệ chiến lược, tự chủ nghiên cứu, sản xuất 14 sản phẩm.

Bộ Y tế đang xây dựng hành lang pháp lý cho các thử nghiệm công nghệ y sinh mới như vaccine thế hệ mới, liệu pháp gen, tế bào gốc. Bộ Nông nghiệp và Môi trường ứng dụng công nghệ trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc và dự báo thiên tai. Bộ Công Thương và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có các chương trình triển khai và đào tạo nhân lực cho lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, các khối viện, trường đại học cũng tích cực tham gia. Điển hình, Đại học Quốc gia TPHCM xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung vào bán dẫn, AI, tự động hóa. Đại học FPT đẩy mạnh đào tạo nhân lực công nghệ. VinUni đạt kết quả trong nghiên cứu tế bào gốc.

Ở khu vực doanh nghiệp, nhiều đơn vị đã bước đầu làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực AI camera như MK, Hanet, BKAV, CMC, VNPT đã làm chủ khoảng 65% công nghệ lõi với tỉ lệ nội địa hóa đạt trên 50%. Viettel làm chủ khoảng 85% công nghệ lõi mạng 5G và phát triển các sản phẩm quốc phòng công nghệ cao.

Nhóm doanh nghiệp phát triển UAV như Realtime Robotics, Viettel và CT Group đã làm chủ trên 70% công nghệ lõi, đã đầu tư tổ hợp nhà máy sản xuất tại Việt Nam và bước đầu xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, các doanh nghiệp như Zalo, FPT, Viettel, VNPT, CMC đã phát triển nhiều mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt. Ở lĩnh vực công nghiệp, các tập đoàn như EVN, PVN đã ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, sản xuất thông minh trong hoạt động sản xuất kinh doanh...

Nhìn tổng thể, Việt Nam đã bước đầu hình thành các yếu tố nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, bao gồm khung thể chế ban đầu, danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược, sự tham gia của một số doanh nghiệp có năng lực công nghệ lõi, xu hướng gia tăng về sở hữu trí tuệ, cũng như hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đang từng bước hoàn thiện.

Nhiều doanh nghiệp Việt khẳng định năng lực làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm chiến lược- Ảnh 2.

Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng - Ảnh: Bộ KHCN

Phát triển công nghệ chiến lược phải bắt đầu từ bài toán quốc gia

Tuy nhiên, để đạt hiệu quả thực chất, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, cần chuyển từ tư duy "đi từ công nghệ" sang "đi từ bài toán quốc gia", đồng thời sử dụng thị trường, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng của Nhà nước làm đòn bẩy.

Theo đó, cần triển khai ngay một số giải pháp. Trước hết, đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược đã đạt tiêu chuẩn, cần có chương trình mua sắm công và chính sách ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam nhằm tạo thị trường, đặc biệt với các sản phẩm như UAV, camera AI, 5G, trợ lý ảo.

Cùng với đó, cần cho phép hình thành các khu thử nghiệm đặc biệt với cơ chế linh hoạt, giảm thủ tục để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ở cấp bộ, ngành và địa phương, cần phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, đóng vai trò đặt hàng doanh nghiệp, viện, trường giải quyết các bài toán lớn, đồng thời Nhà nước đóng vai trò là khách hàng đầu tiên.

Về cơ chế tài chính, cần đổi mới theo hướng cấp ngân sách theo khối (block funding) cho các bộ, ngành thông qua quỹ khoa học và công nghệ, giúp chủ động triển khai nhiệm vụ, giảm thủ tục và gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện vai trò điều phối thống nhất trên nền tảng số để tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả.

Nhà nước tạo ra việc lớn, bài toán quốc gia phải đủ rõ về mục tiêu, quy mô, người mua và mức độ tự chủ, tạo ra thị trường lớn, cơ chế tài chính thông thoáng, nhân sự linh hoạt, xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, và việc lớn thì giao tổng thầu công nghệ, thì chúng ta sẽ thu hút được tinh hoa khoa học và công nghệ toàn cầu tham gia giải quyết các bài toán lớn của Việt Nam, giúp Việt Nam phát triển và tự chủ công nghệ chiến lược.

Về cơ chế tài chính, cần tiếp tục đổi mới theo hướng phân bổ ngân sách theo nhóm nhiệm vụ cho các bộ, ngành thông qua các quỹ khoa học và công nghệ, qua đó tăng tính chủ động trong triển khai, giảm bớt thủ tục hành chính và gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện vai trò điều phối thống nhất trên nền tảng số nhằm hạn chế trùng lặp và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đồng thời, Nhà nước định hướng rõ các nhiệm vụ trọng tâm mang tầm quốc gia với mục tiêu, quy mô và cơ chế thực hiện cụ thể; tạo lập môi trường thuận lợi về tài chính, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu; hoàn thiện cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý. Đối với các nhiệm vụ có quy mô lớn, có thể giao cho đơn vị có năng lực phù hợp chủ trì triển khai, qua đó huy động hiệu quả nguồn lực khoa học và công nghệ trong và ngoài nước, góp phần nâng cao năng lực làm chủ các công nghệ then chốt, phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thu Giang