In bài viết

Nông nghiệp ĐBSCL 2026: Chủ động thị trường, không để bị động đầu ra

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, thiên tai, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu diễn biến dồn dập, nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2025 vẫn giữ được đà tăng trưởng ấn tượng, khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế. Tuy nhiên, phía trước năm 2026 là loạt thách thức mới về thị trường, hạ tầng, môi trường và nguồn nhân lực, đòi hỏi những giải pháp quyết liệt, đồng bộ để vùng châu thổ tiếp tục vươn lên bền vững.

02/03/2026 19:17
Nông nghiệp ĐBSCL 2026: Chủ động thị trường, không để bị động đầu ra- Ảnh 1.

Đề án "Phát triển 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh" tiếp tục được triển khai với 07 mô hình điểm cấp trung ương ở các tỉnh trong khu vực - Ảnh: VGP/LS

Tăng cường liên kết vùng và đẩy nhanh chuyển đổi số

Phát biểu khai mạc Hội nghị giao ban đầu năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường khu vực ĐBSCL chiều 2/3, Thứ trưởng Bộ NN&MT Trần Thanh Nam nhấn mạnh đây là vùng trọng điểm về an ninh lương thực quốc gia, được Bộ luôn sát sao chỉ đạo, lắng nghe để định hướng cho năm 2026 và cả nhiệm kỳ mới.

Theo Thứ trưởng, những tín hiệu đầu năm cho thấy thuận lợi bước đầu, nhất là xuất khẩu và sản xuất trong nước đang ổn định và có chiều hướng tốt. Tuy nhiên, ngành sẽ đối mặt với nhiều khó khăn như yêu cầu làm việc với đoàn EU về IUU, áp lực thủy lợi, biến động thị trường và giá cả năm 2026 khó lường, đặc biệt là các mặt hàng bảo đảm an ninh lương thực.

Đáng lưu ý, vụ thu hoạch lúa rộ tháng 3/2026 có thể tạo áp lực lớn cho cơ quan quản lý và thu nhập của người dân. Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết, sẽ kiến nghị Chính phủ chủ trì họp các bộ, ngành chủ động làm việc cùng các Tổng công ty, Hiệp hội Lương thực trước đợt thu hoạch rộ lúa đông xuân 2026 để có kế hoạch tiêu thụ, bảo đảm giá cả, không để bị động.

Ở góc độ địa phương, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên xác định trọng tâm năm 2026 là đẩy nhanh chuyển đổi nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp; phối hợp hiệu quả thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao; nâng cao giá trị chuỗi nông sản.

Bên cạnh đó, thúc đẩy số toàn diện trong quản lý nông nghiệp và môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu chung; quản lý mã vùng trồng – vùng nuôi; tăng cường liên kết vùng trong chế biến, tiêu thụ và logistics nông sản. Phát huy vai trò của Cần Thơ là trung tâm thương mại, dịch vụ, chế biến và kết nối thị trường của vùng; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy nhanh các dự án thủy lợi trọng điểm, nâng cao năng lực cảnh báo và giảm thiểu rủi ro thiên tai cho sản xuất và đời sống nhân dân.

Tăng trưởng 3,9%: Giữ nhịp giữa biến động

Năm 2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường thực hiện kế hoạch trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, dịch bệnh, thiên tai, bão lũ và tác động của biến đổi khí hậu diễn ra dồn dập. Tuy nhiên, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân, nông nghiệp vùng ĐBSCL vẫn duy trì tăng trưởng khá.

Tốc độ tăng trưởng nông lâm thủy sản (NLTS) toàn ngành đạt 3,78%; trong đó, nông nghiệp tăng 3,48%; lâm nghiệp tăng 5,7%; thủy sản tăng 4,41%. Riêng tốc độ tăng trưởng NLTS của vùng ĐBSCL ước đạt 3,9%.

Trong trồng trọt, cây lúa tiếp tục là trụ cột. Sản lượng lúa đạt 24,057 triệu tấn với diện tích khoảng 3,79 triệu ha. Riêng vụ Đông Xuân 2024-2025 đạt 10,772 triệu tấn trên diện tích 1,51 triệu ha. Sản lượng gạo xuất khẩu đạt 7,85–8,06 triệu tấn, kim ngạch 4,02–4,1 tỷ USD.

Đề án "Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp" tiếp tục được triển khai với 07 mô hình điểm cấp trung ương tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp; đồng thời mở rộng sang An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ. Quy trình canh tác giảm phát thải và hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải (MRV) được hoàn chỉnh.

Cây ăn quả đạt diện tích 414,3 nghìn ha, chiếm 31,8% cả nước; sản lượng 6,7 triệu tấn, bằng 42,8% sản lượng toàn quốc, với nhiều vùng chuyên canh bưởi, sầu riêng, xoài, mít, dứa hình thành rõ nét.

Chăn nuôi duy trì ổn định: Sản lượng thịt lợn 450 nghìn tấn (10,9% cả nước), giá trị 14.043 tỷ đồng; gia cầm 324 nghìn tấn (16,9%), giá trị 21.875 tỷ đồng; thịt bò 102,8 nghìn tấn (22,9%), giá trị 5.259 tỷ đồng.

Thủy sản tiếp tục giữ vai trò "thủ phủ" cả nước với sản lượng 4,79 triệu tấn, chiếm 55,7% cả nước. Trong đó, nuôi trồng 3,37 triệu tấn trên diện tích 806 nghìn ha; khai thác 1,48 triệu tấn với 24.194 tàu thuyền.

Nông nghiệp ĐBSCL 2026: Chủ động thị trường, không để bị động đầu ra- Ảnh 2.

Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: VGP/LS

Nông thôn mới bứt tốc, hạ tầng ứng phó khí hậu được củng cố

Chương trình xây dựng nông thôn mới ghi nhận kết quả nổi bật: 1.149/1.233 xã (93,2%) đạt chuẩn, tăng 22% so với cuối năm 2021; 519 xã đạt chuẩn nâng cao, 121 xã đạt chuẩn kiểu mẫu; bình quân 18,5 tiêu chí/xã. Toàn vùng có 76 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ; 11 huyện đạt chuẩn nâng cao; Đồng Tháp hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Chương trình OCOP có 3.967 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, trong đó 38 sản phẩm 5 sao; 2.009 chủ thể tham gia.

Về thủy lợi, vùng đã hình thành 15 hệ thống lớn như Cái Lớn – Cái Bé, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Ô Môn – Xà No, Nam Măng Thít…; khoảng 90.000 km kênh; trên 2.600 cống; 3.088 trạm bơm; gần 4.410 km đê sông, đê biển.

Trước tình trạng sạt lở, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 812 điểm với tổng chiều dài trên 1.210,876 km. Đã di dời 22.319 hộ, kinh phí 2.628 tỷ đồng; đầu tư 29.907 tỷ đồng xây dựng 280 công trình phòng chống sạt lở dài 501 km.

Bước sang năm 2026, ngành Nông nghiệp ĐBSCL đối diện nhiều khó khăn. Biến động giá cả, rào cản thương mại, nguy cơ thiếu – thừa lao động cục bộ, sản xuất nhỏ lẻ, ô nhiễm môi trường nông thôn và hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển là những vấn đề nổi lên.

Biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến cực đoan; thiên tai chồng thiên tai; nhiều giá trị khí tượng, thủy văn vượt ngưỡng lịch sử, gây áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng.

Giải pháp 2026: Cơ cấu lại, chuyển đổi xanh, đầu tư hạ tầng

Trước bối cảnh đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường xác định 7 nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, cơ cấu lại sản xuất theo hướng phát triển nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, hiện đại, bền vững, bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao thu nhập người dân.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, sản xuất sạch, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm.

Thứ ba, tăng cường đầu tư hạ tầng thủy lợi, đê kè, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, hệ thống giống và quản lý chất lượng.

Thứ tư, triển khai hiệu quả các đề án lớn, trong đó có Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Thứ năm, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

Thứ sáu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, giảm thiểu tác động tiêu cực của hạn hán, xâm nhập mặn, sa mạc hóa.

Thứ bảy, tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp cùng với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững…, đưa vùng ĐBSCL không chỉ trở thành một vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn nhất cả nước mà còn là một vùng nông thôn phồn thịnh, văn minh.

Năm 2026 được dự báo là năm "đan xen" cơ hội và thách thức. Yêu cầu đặt ra là cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Với nền tảng tăng trưởng 3,9% năm 2025 và hệ thống hạ tầng, thể chế ngày càng hoàn thiện, nông nghiệp ĐBSCL đang đứng trước thời cơ để chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, tiếp tục giữ vững vai trò "vựa lúa, vựa thủy sản" lớn nhất cả nước trong giai đoạn phát triển mới.

Lê Sơn