Phát triển công nghiệp hỗ trợ - Bài 4: Nội địa hóa để làm chủ công nghệ, năng lực
(Chinhphu.vn) - Tỉ lệ nội địa hóa thường được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển của công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, một sản phẩm có nhiều linh kiện được sản xuất trong nước chưa đồng nghĩa phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam tạo ra đã cao, nhất là khi những khâu quan trọng như thiết kế, công nghệ, vật liệu hay tích hợp hệ thống vẫn phụ thuộc bên ngoài.

Các sản phẩm chip trưng bày tại Lễ khởi công dự án đầu tư xây dựng Nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao đầu tiên của Việt Nam của Tập đoàn Viettel - Ảnh: chinhphu.vn
Không chỉ là tỉ lệ nội địa hóa
Ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tỉ lệ nội địa hóa hiện khoảng 25-30%. Với ô tô, xe con đạt khoảng 15-20%, trong khi xe tải và xe khách cao hơn. Điện tử gia dụng đạt khoảng 30-45%, nhưng điện tử tin học, viễn thông mới khoảng 15%.
Theo định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, đến năm 2030, tỉ lệ nội địa hóa ngành điện tử phấn đấu đạt 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65% và công nghiệp công nghệ cao 15%. Đến năm 2035, các tỉ lệ tương ứng được đặt mục tiêu cao hơn.
TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) cho rằng, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên tỉ lệ nội địa hóa sang xây dựng năng lực công nghiệp và năng lực công nghệ. Không phải mọi nguyên liệu, linh kiện hay thiết bị đều cần tự sản xuất trong nước. Vấn đề là xác định những công nghệ và năng lực kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược để từng bước làm chủ.
Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đặt vấn đề ở một bước xa hơn. Theo ông, một nền công nghiệp mạnh không chỉ được đo bằng quy mô sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cuối cùng, mà còn ở khả năng làm chủ vật liệu, linh kiện, thiết bị, công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn, dịch vụ kỹ thuật và các khâu có giá trị gia tăng cao.
Vì vậy, tăng số lượng doanh nghiệp, mở rộng danh mục sản phẩm hay nâng tỉ lệ nội địa hóa mới phản ánh một phần quá trình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Điều quan trọng hơn là giá trị nào được tạo ra trong nước, công nghệ nào được làm chủ và doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến lên vị trí nào trong chuỗi giá trị. Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, yêu cầu đặt ra là chuyển từ "nội địa hóa sản phẩm" sang "nội địa hóa giá trị và năng lực".
Từ sản xuất đến thiết kế, phát triển sản phẩm
Muốn tiến lên những công đoạn có giá trị cao hơn, doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào quá trình tạo ra sản phẩm, từ nghiên cứu, thiết kế đến phát triển vật liệu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Tuy nhiên, số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tham gia được vào những khâu này còn ít.
Ông Phạm Văn Quân cho biết, hiện chỉ khoảng 19% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực dệt may, da giày và 33% trong lĩnh vực điện tử có thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Những năng lực như nghiên cứu - phát triển, thiết kế sản phẩm, thiết kế công nghệ, phát triển vật liệu, phần mềm điều khiển, sở hữu trí tuệ và xây dựng thương hiệu cũng chưa phổ biến.
Để phát triển những năng lực này, doanh nghiệp cần phần mềm, thiết bị, cơ sở thử nghiệm và đội ngũ chuyên gia, trong khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có thể tự đầu tư đầy đủ. Vì vậy, ông Phạm Văn Quân đề xuất xây dựng mạng lưới trung tâm thiết kế dùng chung gắn với trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đầu chuỗi. Tại đây, doanh nghiệp có thể sử dụng phần mềm, thiết bị tính toán, thư viện tiêu chuẩn, máy tạo mẫu và tiếp cận chuyên gia để thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm.
Việc sử dụng các nguồn lực dùng chung không chỉ giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu. Khi trực tiếp tham gia thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm, doanh nghiệp có điều kiện tích lũy dữ liệu, kinh nghiệm và năng lực thiết kế để tiếp tục cải tiến, phát triển những sản phẩm tiếp theo.
Khi sản phẩm ngày càng tích hợp nhiều công nghệ, năng lực thiết kế và phát triển sản phẩm cũng không còn giới hạn ở thiết kế cơ khí hay chế tạo linh kiện. Theo ông Phạm Văn Quân, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần từng bước phát triển thêm năng lực về phần mềm công nghiệp, phần mềm nhúng, trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa, cảm biến, dữ liệu công nghiệp, bản sao số và tích hợp hệ thống.
Sự thay đổi này cũng khiến cách xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ theo một danh mục cố định khó theo kịp sự phát triển của công nghệ. Vì vậy, chính sách cần từng bước chuyển từ xác định doanh nghiệp sản xuất được sản phẩm nào sang xem xét doanh nghiệp làm chủ được công nghệ gì, tạo ra bao nhiêu giá trị trong nước, có khả năng thay thế nguồn cung đến đâu và năng lực đó có vai trò như thế nào đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc phát biểu kết luận Hội thảo "Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam" - Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Hỗ trợ để hình thành năng lực
Để doanh nghiệp có thể tự thiết kế, cải tiến và phát triển sản phẩm, hỗ trợ cũng không thể chỉ dừng ở việc giúp sản xuất thêm một linh kiện hay thay thế một sản phẩm nhập khẩu. Quan trọng hơn là sau quá trình đó, doanh nghiệp từng bước tích lũy được công nghệ và năng lực của mình.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đề nghị chuyển từ "nội địa hóa theo tỉ lệ" sang "làm chủ năng lực". Những năng lực cần tự chủ hoặc cần bảo đảm khả năng thay thế phải được xác định rõ, thay vì đặt mục tiêu tự sản xuất bằng mọi giá đối với tất cả đầu vào.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, ngay cả các tập đoàn toàn cầu cũng không tự sản xuất tất cả mà tổ chức mạng lưới cung ứng trên phạm vi rộng. Việt Nam vì vậy cần lựa chọn những công nghệ và năng lực cần làm chủ, đồng thời tận dụng hợp tác và chuyển giao công nghệ để rút ngắn quá trình hình thành những năng lực đó.
Khi đã xác định được những năng lực cần hình thành trong nước, nguồn lực hỗ trợ cũng cần được tập trung vào những khâu có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đó. Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang tập trung theo chuỗi, theo công đoạn và những bài toán lớn của đất nước; từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả, có điều kiện, có thời hạn. Nguồn lực Nhà nước đóng vai trò "vốn mồi", chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp.
Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, nguồn lực Nhà nước nên tập trung vào những khâu doanh nghiệp khó tự vượt qua trong giai đoạn đầu. Đây thường là những công đoạn đòi hỏi đầu tư lớn nhưng chưa tạo doanh thu ngay như nghiên cứu, phát triển mẫu, thử nghiệm, chứng nhận hay đổi mới công nghệ.
Khi nguồn lực được tập trung vào những khâu này, hiệu quả hỗ trợ cũng cần được đo bằng năng lực thực tế hình thành sau quá trình đầu tư. Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu chuyển từ quản lý theo hoạt động sang quản lý theo kết quả, để mỗi đồng ngân sách tạo ra thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và thêm giá trị gia tăng trong nước.
Sau mỗi đơn hàng, dự án hay chương trình hỗ trợ, điều cần giữ lại vì thế không chỉ là một sản phẩm đã làm được. Quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam có thêm công nghệ, bản thiết kế, kinh nghiệm và khả năng tự phát triển những sản phẩm tiếp theo.
Phương Nguyên