Phát triển kinh tế dưới tán rừng tạo sinh kế cho người dân
(Chinhphu.vn) - Phát triển kinh tế dưới tán rừng không chỉ đơn thuần là bài toán thu nhập, mà là chiến lược bảo đảm an ninh sinh thái bền vững. Ngành lâm nghiệp Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy quản lý bảo vệ rừng nghiêm ngặt sang quản trị hệ sinh thái đa giá trị.

Phát triển dược liệu và du lịch sinh thái giúp người dân và cộng đồng gắn bó, bảo vệ rừng hơn - Ảnh minh họa
Thay đổi tư duy: Từ "bảo vệ" sang "quản trị đa giá trị"
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ NN&MT) cho biết: "Nếu trở lại thập niên 1990, tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam chỉ ở mức khoảng 27%. Đến năm 2024, con số này đã đạt 42,03%, một bước tiến dài nhờ nỗ lực của toàn hệ thống chính trị và cộng đồng người dân gắn bó với rừng". Ông Lượng nhấn mạnh rằng việc nâng chất lượng rừng đặc dụng và rừng bảo tồn chính là "pháo đài tự nhiên" cho đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu.
Ông Vũ Bá Công, Phó Giám đốc Sở NN&MT Hải Phòng cũng khẳng định tầm quan trọng của việc thay đổi phương thức quản lý: "Lâm nghiệp hiện nay không còn là lĩnh vực đơn ngành mà là cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển xanh. Mục tiêu của thành phố là chuyển từ quản lý truyền thống sang quản trị hệ sinh thái đa giá trị, làm sao để người dân sống gần rừng có thể làm giàu từ rừng mà không xâm hại đến tài nguyên".
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, các mô hình như nuôi ong, trồng cây dược liệu và du lịch sinh thái đang mang lại nguồn thu nhập vượt trội cho người dân.
Nghề nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn là minh chứng rõ nét cho sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học. Ông Vũ Quốc Đạt, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) chia sẻ: "Hệ sinh thái rừng ngập mặn với nguồn hoa sú, vẹt đã tạo nên loại mật ong có màu sắc, hương vị riêng... nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn đã và đang chứng minh hiệu quả rõ nét trong việc tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng đệm, giảm áp lực khai thác tài nguyên". Hiện nay, mật ong sú vẹt của Vườn quốc gia Xuân Thủy đã đạt chuẩn OCOP 3 sao và được công nhận nhãn hiệu chứng nhận.
Tại Hải Phòng, mô hình này cũng đang gặt hái thành công lớn. Ông Đặng Thanh Tùng, Giám đốc HTX sản xuất mật ong Tùng Hằng (xã Kiến Hải) cho biết: "Từ 500 đàn ong năm 2020, nay chúng tôi đã phát triển lên 1.300 đàn, sản lượng 10.000 lít mật/năm. Nghề nuôi ong không gây hại đến rừng, ngược lại còn thúc đẩy quá trình thụ phấn, giúp hệ sinh thái rừng phát triển tốt hơn".
Không chỉ có mật ong, việc trồng cây dược liệu như sa nhân tím, thảo quả, ba kích, trà hoa vàng dưới tán rừng cũng đang trở thành hướng đi chủ lực tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang, Hà Giang. Ông Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang ghi nhận vào tháng 11/2025: "Ý thức người dân đã tiến bộ rõ rệt. Ai cũng hiểu rằng xâm hại rừng đều bị xử lý, trong khi việc khai thác giá trị kinh tế dưới tán rừng đang giúp nhiều địa phương nâng cao thu nhập, gắn sinh kế với bảo vệ rừng bền vững".
Nâng cao nhận thức qua phát triển kinh tế rừng
Chính sách giao khoán đất và phát triển du lịch sinh thái là "chìa khóa" để huy động nguồn lực xã hội vào công tác bảo vệ rừng.
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm nhấn mạnh vai trò của cộng đồng thông qua cơ chế hợp tác Công – Tư – Cộng đồng (PPP+C): "Du lịch sinh thái chỉ bền vững khi đạt đủ ba trụ cột: hỗ trợ tài chính cho bảo vệ tự nhiên; nâng cao nhận thức môi trường – văn hóa cho du khách; và đảm bảo lợi ích công bằng cho người dân". Để rừng có thể "tự nuôi rừng", hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã trở thành "cánh tay tài chính" đắc lực. Ông Phạm Hồng Lượng nhận định: "Nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành động lực mạnh giúp người dân bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích họ phát triển các mô hình kinh tế xanh". Theo Nghị định 58/2024, mức khoán bảo vệ rừng đã được nâng từ 300.000 đồng/ha lên 500.000 đồng/ha, tạo thêm niềm tin cho người dân gắn bó với rừng.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ cao như WebGIS, flycam (UAV) camera nhiệt và ảnh viễn thám đang giúp lực lượng kiểm lâm và người dân giám sát biến động rừng, phát hiện sớm các điểm cháy một cách chính xác. Một hướng đi mới đầy triển vọng là thương mại hóa tín chỉ carbon rừng. Các chuyên gia tại Hải Phòng cho rằng việc minh bạch hóa trữ lượng carbon trên nền tảng số sẽ thu hút nhà đầu tư, tạo nguồn tài chính ổn định cho người nhận khoán bảo vệ rừng.
Với sự đồng hành của nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và đặc biệt là sự tham gia tích cực của cộng đồng người dân, ngành lâm nghiệp Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa rừng trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ tương lai xanh cho thế hệ mai sau.
Việc phát triển kinh tế dưới tán rừng không chỉ là giải pháp để nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ an ninh sinh thái mà còn mở ra hướng đi bền vững, giúp hàng triệu hộ dân sống dựa vào rừng thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng.
Đỗ Hương