Phát triển vật liệu xây không nung để bảo vệ tài nguyên và môi trường
Với lợi ích to lớn góp phần tiết kiệm tài nguyên, đặc biệt là đất nông nghiệp, giảm thiểu khí phát thải gây ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội, vật liệu xây không nung (VLXKN) đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới từ lâu. Nhưng ở nước ta, dù nguồn nguyên liệu dồi dào, khí hậu nóng ẩm nhiệt đới rất cần áp dụng, thì VLXKN lại vẫn “giẫm chân tại chỗ”, mà trong đó có nguyên nhân từ việc cụ thể hóa các cơ chế chính sách.
* Mỗi năm mất hơn 1.000 ha đất nông nghiệp
Theo TS Thái Duy Sâm và các nhà khoa học ở Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), dự báo nhu cầu vật liệu xây ở nước ta đến năm 2020 vào khoảng 41- 43 tỉ viên gạch (quy tiêu chuẩn)/năm. Nếu sản xuất gạch đất sét nung với số lượng này phải tiêu tốn khoảng 57- 60 triệu m3 đất sét và 5,3-5,6 triệu tấn than. Như vậy, mức độ hao hụt của đất nông nghiệp là vô cùng lớn, chưa kể đến sự ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên không tái tạo được.
Không những mất đất nông nghiệp, khói đốt lò gạch thủ công đã trở thành nỗi lo hàng chục năm nay của nhiều hộ gia đình ở khu vực nông thôn bởi nguồn phát thải ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây mất mùa cho một số diện tích canh tác. Không những thế, nhiều chủ lò gạch còn ngang nhiên vi phạm luật đất đai, luật đê điều để lấy đất làm gạch... Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp và địa phương đã giảm bớt các lò gạch thủ công, đầu tư các lò nung tuy-nen để sản xuất gạch xây. Tuy nhiên, cho dù có cải tiến công nghệ, gạch xây bằng đất sét nung vẫn có rất nhiều hạn chế khi phải mất lượng lớn đất, nhiên liệu và phát thải nhiều loại khí độc hại.
Nhằm giảm thiểu việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 về phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020, với mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN để thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ: 20 - 25% vào năm 2015, 30 - 40% vào năm 2020; hàng năm sử dụng khoảng 15 - 20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao…) để sản xuất VLXKN, tiết kiệm được khoảng 1.000 ha đất nông nghiệp và hàng trăm ha diện tích đất chứa phế thải; tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công.
So với gạch đất sét nung,VLXKN có nhiều ưu điểm nổi bật như: nguồn nguyên liệu dồi dào, dễ kiếm, không ảnh hưởng đến đất trồng trọt, tận dụng được nguồn phế thải công nghiệp; giảm chi phí năng lượng, đặc biệt là giảm lượng khí thải, bảo vệ môi trường. Ngoài ra, có thể sản xuất VLXKN ở quy mô nhỏ, đơn giản, dễ tạo ra chất lượng sản phẩm theo yêu cầu về cường độ, kích thước, có độ chính xác cao. Một ưu điểm nổi bật nữa là một số VLXKN nhẹ, cách nhiệt, cách âm tốt, góp phần tiết kiệm năng lượng trong điều kiện thời tiết nóng ẩm ở nước ta. Có thể lấy ví dụ: giữa xây tường bằng gạch tuynen 2 lỗ thông dụng với một loại vật liệu xây không nung là gạch blốc rỗng SHB2-150 có kích thước 390 x 150 x 190 mm cho thấy: xây gạch blốc tiết kiệm vữa 60%, thời gian xây 1m2 giảm 60%, giá viên gạch đã quy kích thước tiêu chuẩn giảm 25%...
* Nhiều cơ chế khuyến khích phát triển VLXKN
Hiện nay, cả nước có khoảng gần 900 cơ sở sản xuất VLXKN, với tổng công suất 1.529 triệu viên (quy tiêu chuẩn)/năm. Tính cả khoảng 350 cơ sở sản xuất có công suất rất nhỏ (dưới 1 triệu viên/năm) thì tổng công suất gạch không nung là khoảng 1.700 triệu viên/năm. Theo đánh giá chung, sản xuất VLXKN vẫn chủ yếu ở quy mô rất nhỏ bé, manh mún, tự phát, tỷ lệ cơ sở sản xuất có công suất vừa và lớn tương đối thấp (28%). Nước ta chưa có một số loại gạch không nung như: gạch silicat, gạch bê tông khí chưng áp... mà các loại này tương đối phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Theo TS Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam, với hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn, việc thay thế gạch đất sét nung bằng VLXKN sẽ là một xu thế phát triển. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay chính là cơ chế chính sách và thói quen của ngưới tiêu dùng. Hiện nay, các tiêu chuẩn liên quan đến yêu cầu thiết kế, hướng dẫn thi công xây dựng và nghiệm thu chưa cụ thể hóa cho từng đối tượng sản phẩm VLXKN. Do đó, nhà tư vấn thiết kế chưa mạnh dạn thiết kế đưa sản phẩm VLXKN vào phổ cập trong các công trình xây dựng.
Ông Lê Văn Tới,Vụ trưởng Vụ VLXD (Bộ Xây dựng) cho biết: Từ năm 2001, Trung Quốc đã ban hành danh sách 170 thành phố cấm sử dụng gạch đặc đất sét nung vào xây dựng công trình; quy định thu thêm một loại phí đối với kiến trúc nhà sử dụng gạch đất sét nung.Trong khi đó, ở Thái Lan, không cần ban hành chính sách khuyến khích VLXKN nhưng nhà nước quản lý chặt việc sử dụng đất đai. Do đó, vật liệu nung có giá cao hơn rất nhiều VLXKN. Yếu tố thị trường điều tiết khiến công nghiệp VLXKN ở Thái Lan rất phát triển như bê tông nhẹ đã có cách đây 10 năm.
Theo Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) phải sử dụng tối thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1000kg/m3) trong tổng số vật liệu xây; khuyến khích các công trình xây dựng sử dụng VLXKN khác có độ rỗng lớn hơn 30% và VLXKN loại nhẹ. Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất và kinh doanh VLXKN, nhà nước đã ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp; các dự án chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN nhẹ và sản xuất gạch xi măng - cốt liệu công suất từ 7 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên được hưởng ưu đãi như đối với các dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm... Chính phủ cũng giao Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện các giải pháp về khoa học công nghệ để phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN; lập danh mục các loại thiết bị, vật tư sản xuất VLXKN được miễn thuế nhập khẩu; xây dựng lộ trình và đôn đốc thực hiện việc xóa bỏ lò gạch thủ công theo các vùng, miền; tổ chức việc thông tin, tuyên truyền về sản xuất, sử dụng VLXKN...
Hải Quang