In bài viết

Quản lý hồ chứa: Phải chuyển từ ứng phó bị động sang vận hành theo dự báo

(Chinhphu.vn) - Bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai đòi hỏi phải đổi mới cả tư duy quản lý lẫn phương thức vận hành. Quản lý theo lưu vực sông, vận hành dựa trên dự báo và xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung cần được xem là những hướng ưu tiên trong quá trình hiện đại hóa quản trị tài nguyên nước ở Việt Nam.

22/10/2026 09:48
Quản lý hồ chứa: Phải chuyển từ ứng phó bị động sang vận hành theo dự báo- Ảnh 1.

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam: "Ứng dụng khoa học công nghệ trong vận hành hồ chứa hiện nay là yêu cầu bắt buộc, chứ không còn là lựa chọn" - Ảnh: chinhphu.vn/Đỗ Hương

Xung quanh vấn đề này, Báo Chính phủ đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam.

Thưa ông, trước những diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai và yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong vận hành hồ chứa hiện nay có ý nghĩa như thế nào? Và đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng: Tôi cho rằng ứng dụng khoa học công nghệ trong vận hành hồ chứa hiện nay là yêu cầu bắt buộc, chứ không còn là lựa chọn. Đây không chỉ là câu chuyện nâng cao hiệu quả khai thác công trình mà còn liên quan trực tiếp đến an toàn đập, phòng, chống thiên tai và bảo đảm an ninh nguồn nước,

Hiện nay, chúng ta đã có những bước tiến trong hoàn thiện quy trình vận hành hồ chứa, trong đó có việc điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa và tiếp cận phương thức vận hành linh hoạt hơn. Tuy nhiên, để các chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần giải quyết đồng bộ những hạn chế về thể chế, dữ liệu, hạ tầng quan trắc, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực của đội ngũ vận hành.

Về hạn chế, có thể khái quát thành 5 nhóm vấn đề.

Thứ nhất, việc cụ thể hóa một số quy định pháp luật về vận hành hồ chứa và phối hợp vận hành trên lưu vực sông còn chậm. Thực tế, có những quy chế phối hợp giữa các chủ hồ chứa và đối tượng sử dụng nước ở hạ du còn rất sơ sài, chủ yếu dừng ở việc cung cấp thông tin liên lạc, chưa hình thành được cơ chế phối hợp thực chất.

Thứ hai, tư duy quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông chưa được thể hiện đầy đủ trong tổ chức quản lý và điều hành. Nguồn nước có tính liên kết tự nhiên, nhưng công tác quản lý hồ thủy lợi, hồ thủy điện, khí tượng thủy văn và phòng, chống thiên tai vẫn có những phần việc được tổ chức theo các hệ thống riêng biệt. Điều này khiến việc điều phối tổng thể nguồn nước trên toàn lưu vực gặp khó khăn.

Thứ ba, hệ thống quan trắc còn thiếu và chưa đồng bộ. Trong khi dự báo và vận hành hồ chứa đòi hỏi dữ liệu cập nhật liên tục, việc thiếu thông tin hoặc thiếu kết nối giữa các hệ thống sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dự báo và quyết định điều hành.

Thứ tư, dữ liệu còn phân tán.

Thứ năm, chúng ta còn thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn thống nhất cho một số nội dung quan trọng, từ quan trắc khí tượng thủy văn, vận hành hồ chứa theo dự báo đến xây dựng bản đồ ngập lụt.

Một trong những vấn đề ông nhấn mạnh là cần chuyển từ vận hành hồ chứa theo thời gian thực sang vận hành dựa trên thông tin dự báo. Ứng dụng AI có hỗ trợ được việc này không thưa ông?

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng: Vận hành theo thời gian thực là yêu cầu quan trọng về cập nhật thông tin, nhưng nếu chỉ phản ứng với những gì đang diễn ra thì chưa đủ để chủ động phòng, chống lũ. Đối với hồ chứa, điều quan trọng là phải sử dụng thông tin dự báo để đưa ra quyết định trước khi tình huống bất lợi xảy ra. Vận hành theo dự báo không có nghĩa là cứ dự báo có mưa lớn thì phải xả nước, mà là sử dụng thông tin dự báo để đánh giá rủi ro và lựa chọn phương án tối ưu trong giới hạn an toàn của công trình, đồng thời bảo đảm yêu cầu cấp nước và giảm thiểu tác động đến hạ du.

AI có thể hỗ trợ nhiều khâu, từ phân tích dữ liệu khí tượng thủy văn, dự báo mưa, dự báo dòng chảy đến mô phỏng thủy lực, đánh giá nguy cơ ngập và so sánh các phương án vận hành hồ chứa.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng AI không thể thay thế toàn bộ hệ thống quản lý và trách nhiệm của con người. Muốn AI phát huy tác dụng, trước hết phải có dữ liệu đủ tốt, được chuẩn hóa, cập nhật và có khả năng kết nối. Nếu dữ liệu đầu vào phân tán, thiếu nhất quán hoặc không được kiểm chứng, kết quả phân tích sẽ khó bảo đảm độ tin cậy.

Do đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và làm chủ các mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam; tăng cường sử dụng phần mềm mã nguồn mở ở những khâu thích hợp; đồng thời kết hợp kinh nghiệm quốc tế với dữ liệu, đặc điểm địa hình, khí hậu và thể chế trong nước.

Quản lý hồ chứa: Phải chuyển từ ứng phó bị động sang vận hành theo dự báo- Ảnh 2.

Cần chuyển từ cách tiếp cận xây dựng các dự án công nghệ riêng lẻ sang giải quyết bài toán tổng thể của từng lưu vực sông

Một nền tảng dữ liệu thống nhất theo lưu vực sông có thể giải quyết tình trạng dữ liệu phân tán như ông vừa nêu ra không?

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng: Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Tôi cho rằng cần chuyển từ cách tiếp cận xây dựng các dự án công nghệ riêng lẻ sang giải quyết bài toán tổng thể của từng lưu vực sông.

Thay vì tiếp tục đầu tư rời rạc, cần xác định bài toán tổng thể cho từng lưu vực, từ dự báo mưa, tính toán dòng chảy, điều tiết hồ chứa đến mô phỏng ngập ở hạ du. Các cơ quan nghiên cứu, viện chuyên ngành và đơn vị có năng lực có thể được giao xây dựng, hoàn thiện bộ công cụ cho từng lưu vực cụ thể, trên một nền tảng số thống nhất. Hệ thống phải được cập nhật thường xuyên, có kinh phí duy trì và cơ chế đánh giá hiệu quả sau khi dự án kết thúc.

Nền tảng này cần có các lớp dữ liệu được tổ chức khoa học, bao gồm dữ liệu quan trắc, cơ sở dữ liệu nền, dữ liệu chuyên ngành, công cụ mô hình hóa và các ứng dụng phục vụ người dùng. Trên nền tảng đó, AI và các công nghệ phân tích dữ liệu mới mới có điều kiện phát huy hiệu quả.

Đặc biệt, phải thống nhất chuẩn kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống quản lý hồ thủy lợi, hồ thủy điện và cơ quan quản lý nhà nước. Nếu dữ liệu thủy lợi và thủy điện không kết nối được với nhau, việc vận hành liên hồ chứa sẽ thiếu một bức tranh đầy đủ về tình hình nguồn nước trên lưu vực. Vì vậy, kết nối dữ liệu phải trở thành yêu cầu bắt buộc, gắn với trách nhiệm của các chủ hồ và cơ chế giám sát của cơ quan quản lý.

Để triển khai các giải pháp trên, theo ông, cần ưu tiên những chính sách và cơ chế nào?

GS.TS Nguyễn Quốc Dũng: Tôi cho rằng cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp.

Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng số theo lưu vực sông. Cần có cơ chế quản lý dữ liệu xuyên suốt từ khâu thu thập, chuẩn hóa, kết nối, khai thác đến cập nhật sau khi các đề tài, dự án kết thúc.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp. Các quy định về vận hành hồ chứa, phối hợp liên hồ chứa và chia sẻ dữ liệu cần được hướng dẫn cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và chủ hồ. Cần tăng cường quản lý theo lưu vực sông, bảo đảm việc điều hành không bị chia cắt bởi ranh giới quản lý hành chính hoặc sự khác biệt giữa các loại hình công trình.

Thứ ba, ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn và định mức kỹ thuật. Theo tôi, cần ưu tiên ba nhóm quy chuẩn quốc gia: quy chuẩn về quan trắc khí tượng thủy văn phục vụ vận hành hồ chứa; quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật về vận hành hồ chứa dựa trên thông tin dự báo FIRO; và quy định về định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật để triển khai các dịch vụ khoa học công nghệ hỗ trợ ra quyết định.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng thể chế phù hợp, dữ liệu đáng tin cậy và con người đủ năng lực. Nếu chỉ đầu tư thiết bị mà không có quy trình vận hành, chuẩn kết nối và cơ chế phối hợp thì khó đạt được mục tiêu đề ra.

Đỗ Hương (thực hiện)