Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, hoạt động khai thác than tại khu vực Quảng Ninh đã và đang gây nên ô nhiễm bụi và ô nhiễm nước thải đáng lo ngại.
Hàm lượng bụi trung bình trong 24 giờ tại các khu vực khai thác, chế biến than đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 - 5,2 lần; hàm lượng bụi trung bình trong 24 giờ tại khu dân cư lân cận vượt tiêu chuẩn đến 3,3 lần. Nguồn bụi phát sinh chủ yếu tại khâu sàng, vận chuyển than. Nhưng bụi còn phát sinh tại các bãi thải chưa dừng đồ thải hoặc đã dừng đổ thải nhưng chưa được cải tạo, phủ thảm thực vật.
Trong tổng lượng nước thải tại các mỏ khoảng từ 25 - 30 triệu m3/năm, hai thông số điển hình ảnh hưởng đến môi trường là tính a xít (độ pH thấp) và cặn lơ lửng. Độ pH của nước thải mỏ dao động từ 3,1 đến 4,5 và hàm lượng cặn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 đến 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt tới 8 lần. Vì thế, nước thải mỏ gây nhiều ảnh hưởng đến hệ thống sông, suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thủy, suy giảm chất lượng nước. Một số hồ thủy lợi trên địa bàn Quảng Ninh bị chua hóa, ảnh hưởng đến chất lượng nước phục vụ nông nghiệp. Năm 2009, thanh tra Bộ TN&MT kiểm tra 13 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực khai thác, vận chuyển và chế biến than tại Quảng Ninh cho thấy các cơ sở đều có nhiều vi phạm; hầu hết chưa xây dựng công trình xử lý nước thải hoàn chỉnh theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã phê duyệt.
Cùng trong thời gian này, Thanh tra Bộ tiến hành thanh, kiểm tra 32 cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản kim loại như quặng sắt, apatit, đồng, vàng, chì, kẽm, boxit... quy mô lớn tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Hải Phòng, Đăk Nông và Lâm Đồng. Kết quả cho thấy có 2 cơ sở không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, 16 cơ sở chưa có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, 12 cơ cơ sở chưa kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; 3 cơ sở chưa ký quỹ phục hồi môi trường, 21 cơ sở không thực hiện đầy đủ các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường; 7 cơ sở có phát sinh nước thải sản xuất nhưng không có hệ thống xử lý nước thải và 11 cơ sởã xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép.
Công tác bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng cũng còn nhiều tồn tại. Với quy trình khai thác còn lạc hậu, không có hệ thống thu bụi, nhiều nơi hàm lượng bụi gấp 9 lần tiêu chuẩn cho phép. Việc khai thác cát, sỏi ở các sông, suối đã làm đục nước sông, gây biến động dòng chảy, xói lở bờ, ô nhiễm dầu và chất thải, gây cản trở giao thông. Một số đoạn trên sông Đồng Nai các chủ đầu tư khai thác đến - 20 mét, - 42 m trong khi chỉ cho phép khai thác đến -16 m, tạo ra sạt lở trầm trọng cả hai bờ sông.
Mặc dù Quyết định 71/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản được ban hành từ ngày 29/5/2008; Thông tư 34/2009 của Bộ TN&MT quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra khai thác khoáng sản triển khai thực hiện Quyết định 71 được ban hành từ ngày 31/12/2009, nhưng đến nay, ý thức chấp hành của các doanh nghiệp khai thác khoáng sản vẫn chưa có chuyển biến đáng kể.
Theo báo cáo của các Sở TN&MT các tỉnh, thành phố, tỷ lệ các cơ sở ký quỹ và cải tạo, phục hồi môi trường còn thấp. Tuyên Quang là nơi tỷ lệ cơ sở thực hiện tốt nhất, đạt 82% (64/78 cơ sở), Thái Nguyên đứng thứ 2, mới có 48% (36/75 cơ sở), Hải Dương đứng thứ 3, mới đạt 45% (32/71 cơ sở), Bắc Kạn mới đạt 43,75% (21/48 cơ sở), Cao Bằng 38,76% (69/178 cơ sở), Hà Giang 32,5% (13/40 cơ sở), Điện Biên 31,1% (16/61 cơ sở) và thấp nhất là Thanh Hóa 17,5% (29/166 cơ sở).
Thao Lan