Quốc hội thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
(Chinhphu.vn) - Chiều 23/8, với 470/471 số đại biểu tán thành (chiếm 94%), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, thông qua.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua Luật, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật.
Theo đó, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội và kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và các cơ quan liên quan nghiên cứu, rà soát, tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật.
Việc hoàn thiện dự thảo nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp về quyền được bồi thường của người bị thiệt hại; bảo đảm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.
Dự thảo Luật được hoàn thiện trên cơ sở lấy kết quả thực tiễn, sự hài lòng và mức độ thụ hưởng của người dân làm trung tâm, qua đó bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua đã thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương mới của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị; đặc biệt là cụ thể hóa các chỉ đạo của Đảng tại Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/1/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các chủ trương, chính sách khác của Đảng và Nhà nước.
Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước, đáp ứng tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại; đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ trong thực thi công vụ; góp phần phòng ngừa vi phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ.
Cùng với đó, Luật góp phần cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, trong quá trình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường; tổ chức và hoạt động của các cơ quan giải quyết bồi thường phù hợp với mô hình tổ chức của các cơ quan sau sắp xếp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam để bảo đảm tính khả thi.
Bổ sung nhiều quy định mới về giải quyết bồi thường và trách nhiệm hoàn trả
Đáng chú ý, Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời đơn giản hóa thủ tục và làm rõ trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Một là, Luật sửa đổi, bổ sung nguyên tắc tại khoản 1 Điều 4, theo đó việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật. Quy định nhằm bảo đảm tính linh hoạt, chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất trong xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Hai là, Luật sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 4, bảo đảm người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự có quyền yêu cầu cơ quan quản lý người thi hành công vụ giải quyết bồi thường, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.
Ba là, Luật đã bổ sung trường hợp được bồi thường khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân (Điều 17 của Luật) nhằm thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW của Bộ Chính trị; đồng thời bổ sung vào Điều 33 của Luật quy định về cơ quan giải quyết bồi thường đối với trường hợp này bảo đảm đồng bộ, thống nhất.
Bốn là, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ được sửa đổi theo hướng đơn giản hóa hồ sơ; chuyển trách nhiệm cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường từ người yêu cầu sang cơ quan nhà nước; cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục; ra quyết định giải quyết bồi thường trong mọi trường hợp; bổ sung trường hợp ra quyết định mà không tiến hành thương lượng và tăng thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Năm là, tại Điều 65, Luật bổ sung các trường hợp được giảm mức hoàn trả, miễn hoàn trả đối với người thi hành công vụ, trong đó có trường hợp thực hiện đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và không vụ lợi.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2027.
Diệu Anh